Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Bước tiến quan trọng trong điều trị ung thư tại mắt

Ung thư mắt khá hiếm, vì thế khi bị chẩn đoán mắc một loại ung thư tại mắt, người bệnh đều sững sờ, hoảng hốt. May mắn là cuộc chiến điều trị ung thư tại mắt đã có nhiều bước tiến quan trọng trong vài năm qua.

Đầu tiên là những thông tin mới và tiến bộ của điều trị K võng mạc, loại ung thư mắt phổ biến nhất ở trẻ em dưới 6 tuổi. Nếu được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể khỏi với tỷ lệ sống lên tới 90-95% và khả năng giữ nhãn cầu rất cao, thậm chí còn cải thiện được thị lực cho một số trường hợp. Một số trường hợp đến muộn, có di căn thì giải pháp bắt buộc và đau đớn là bỏ mắt của bệnh nhân bởi quy tắc bắt buộc bao lâu nay: bảo tồn tính mạng trước, bảo tồn nhãn cầu và duy trì thị lực sau.

Rõ ràng từ bỏ mắt là quan điểm điều trị chính trước đây. Ngày nay chúng ta đã thiên về hướng bảo tồn nhiều hơn. Sự lựa chọn các phương pháp bảo tồn cũng khá phong phú như: lạnh đông, quang đông, đĩa xạ trị.

Gần đây phương pháp điều trị hóa chất tiêm tĩnh mạch và tiêm thẳng vào động mạch mắt đã nâng tỷ lệ giữ được nhãn cầu, thậm chí có thể khôi phục thị lực trong một số trường hợp. Đi đầu là các nhà khoa học thuộc Trung tâm Y tế Weill Cornell và Bệnh viện Presbyterian, New York (Mỹ) đã tiến hành luồn một đường ống chuyên dụng xuyên qua cơ thể lên tới mắt, sau đó truyền trực tiếp thuốc melphalan tới khối u nguyên bào võng mạc qua động mạch nuôi mắt. Melphalan trước đây được sử dụng để điều trị một số loại ung thư như đa u tủy, buồng trứng. Thuốc bắt đầu được dùng trong điều trị khối u tại mắt như K võng mạc, K hắc mạc (melanoma) bởi hiệu quả, độc tính thấp. Phương thức đưa thuốc vào gần khối u mới thực sự là điều đáng nói. Nó giúp các bác sĩ có thể điều chỉnh lượng hóa chất một cách thích hợp, giảm liều do vậy giảm độc tính với toàn thân. Các ưu điểm nổi trội là diệt tế bào ung thư “đúng lúc, đúng chỗ, đúng liều”. Trong số 22 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này, có 3/4 giữ lại được đôi mắt và một nửa số đó lấy lại được thị lực. Kỹ thuật này mở ra một chân trời mới cho các bệnh nhân bị u nguyên bào võng mạc, vốn từ xưa đến nay hay phải bỏ mắt để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.

Với các u nội nhãn của màng bồ đào (u mống mắt, thể mi, hắc mạc), quan điểm điều trị đã thay đổi hoàn toàn, bên cạnh đó là những hiểu biết mới và vũ khí điều trị mới. Từ quan điểm bỏ mắt là an toàn nhất, chống được di căn, đặc biệt là với bệnh nhân “lười” khám lại như bệnh nhân Việt Nam, nay quan điểm điều trị bảo tồn đến cùng đã được quán triệt.

Khối u ung thư mắt làm hạn chế  tầm nhìn của người bệnh.

Người ta đặc biệt cảnh giác với những bệnh nhân u màng bồ đào, chỉ có 1 nhiễm sắc thể số 3 (monosomi) khi làm xét nghiệm di truyền, có thể phải bỏ mắt sớm chủ động do rất hay di căn sau 2 năm phát bệnh. Còn lại ta có vô số lựa chọn để giữ lại con mắt, bảo tồn thị lực cho người bệnh như: Xạ trị (tấm xạ trị, dùng tia proton, xạ trị 3D); Quang trị liệu (quang hóa trị liệu, quang nhiệt, quang động học); Phẫu thuật.

Các máy phát laser thế hệ mới phát xung năng lượng thấp, phát tia kéo dài làm hạn chế biến chứng đáng kể so với các máy thế hệ cũ. Laser quang động dùng vỏ capsid của virus vận chuyển verteporfin vào khối u, sau đó chiếu laser bước sóng 689nm vào có thể tiêu diệt tế bào khối u ngay lập tức là tin mừng trong lĩnh vực điều trị khối u màng bồ đào. Tấm xạ trị chứa Ruthenium có ống chuẩn trực, chế tác 3D cũng là vũ khí điều trị bảo tồn hiệu quả u hắc tố màng bồ đào (melanomas). Chùm tia photon cũng là ứng dụng mới để điều trị các khối u nông, thuộc diện bán phần trước, tránh được hủy hoại thể thủy tinh hay giác mạc. Với u mống mắt có thể laser hay xạ trị định vị chính xác vào khối u, xạ trị toàn bộ mống mắt nếu cần.

Cắt khối u đường ngoài hay đường trong có dùng đèn nội soi, dầu nội nhãn là 2 phương pháp được lựa chọn để điều trị bảo tồn. Sau mổ có thể xạ trị bổ sung vào bờ tổn thương để phòng di căn.

Nhờ những hiểu biết mới về di truyền học qua kỹ thuật giải trình tự gene, sử dụng hóa mô miễn dịch nên các gene bệnh lý được tìm ra nhiều qua đó kiểu di truyền của khối u cũng được thiết lập, nhiều yếu tố tiên lượng được tìm ra thêm...

Cuối cùng là vũ khí điều trị mới với nhóm bệnh này sử dụng thành tựu của giải Nobel Y học năm 2018: Sunitinib ra đời, điều trị melanoma với tỷ lệ sống sót cao hơn hẳn so với các phương pháp khác. Miễn dịch huyết khối dùng Immunoembolization kết hợp với Ipilmumab, điều trị tới cùng - khi u di căn đến gan bằng cách gây huyết khối cho khối u gan bằng hạt cầu phóng xạ gắn Ytrium90 cũng là những lựa chọn mới nhằm bảo tồn thị lực, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.

Gần đây các chế phẩm mới về miễn dịch trị liệu liên tục được đưa ra giúp cho điều trị tất cả các khối ác tính của mi, hốc mắt. Đầu tiên là các chế phẩm ức chế PD1 để điều trị các u hắc tố, u tế bào vảy (squamous cell carcinoma) và một vài loại u khác. Một vài loại protein có thể hoạt hóa tế bào lympho T4 được đưa vào cơ thể giúp bệnh nhân lấy lại được quy trình kiểm soát các khối u không những tại mắt mà còn là các bộ phận quanh mắt như da vùng đầu mặt. Các thuốc ức chế PD1 làm tăng tuổi thọ, khống chế di căn từ da vào mắt hay từ da vào hốc mắt rất hiệu quả. Bên cạnh đó là thời gian bệnh không tái phát tại chỗ cũng duy trì được khá ấn tượng.

Các kháng thể đơn dòng, các chất ức chế phân tử nhỏ được coi là những phát minh mới, đầy quyền năng để điều trị các bệnh lý khối u hốc mắt như u lympho hay một số thể viêm tổ chức hốc mắt.

Đầu xuân nói đến những tiến bộ mới trong điều trị ung thư tại mắt như một bài ca mừng xuân mới. Trong cái vui không thể quên rằng: chúng ta vẫn chưa đi vào được gốc rễ bản chất ung thư. Chính vì vậy phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh.

Tham khảo thêm thông tin bài viết: Những căn bệnh có thể phát hiện khi khám mắt

TS.BS. Hoàng Cương - Theo suckhoedoisong.vn
Bình luận
Tin mới
  • 02/11/2026

    Tình trạng mất cơ khi dùng thuốc GLP-1: Những điều cần biết

    Các loại thuốc GLP-1 có thể giúp kiểm soát lượng đường trong máu và hỗ trợ giảm cân. Tuy nhiên, một số người có thể lo ngại về tình trạng mất cơ trong quá trình sử dụng các loại thuốc này.

  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

Xem thêm