Đầu tiên là những thông tin mới và tiến bộ của điều trị K võng mạc, loại ung thư mắt phổ biến nhất ở trẻ em dưới 6 tuổi. Nếu được phát hiện và điều trị sớm, bệnh có thể khỏi với tỷ lệ sống lên tới 90-95% và khả năng giữ nhãn cầu rất cao, thậm chí còn cải thiện được thị lực cho một số trường hợp. Một số trường hợp đến muộn, có di căn thì giải pháp bắt buộc và đau đớn là bỏ mắt của bệnh nhân bởi quy tắc bắt buộc bao lâu nay: bảo tồn tính mạng trước, bảo tồn nhãn cầu và duy trì thị lực sau.
Rõ ràng từ bỏ mắt là quan điểm điều trị chính trước đây. Ngày nay chúng ta đã thiên về hướng bảo tồn nhiều hơn. Sự lựa chọn các phương pháp bảo tồn cũng khá phong phú như: lạnh đông, quang đông, đĩa xạ trị.
Gần đây phương pháp điều trị hóa chất tiêm tĩnh mạch và tiêm thẳng vào động mạch mắt đã nâng tỷ lệ giữ được nhãn cầu, thậm chí có thể khôi phục thị lực trong một số trường hợp. Đi đầu là các nhà khoa học thuộc Trung tâm Y tế Weill Cornell và Bệnh viện Presbyterian, New York (Mỹ) đã tiến hành luồn một đường ống chuyên dụng xuyên qua cơ thể lên tới mắt, sau đó truyền trực tiếp thuốc melphalan tới khối u nguyên bào võng mạc qua động mạch nuôi mắt. Melphalan trước đây được sử dụng để điều trị một số loại ung thư như đa u tủy, buồng trứng. Thuốc bắt đầu được dùng trong điều trị khối u tại mắt như K võng mạc, K hắc mạc (melanoma) bởi hiệu quả, độc tính thấp. Phương thức đưa thuốc vào gần khối u mới thực sự là điều đáng nói. Nó giúp các bác sĩ có thể điều chỉnh lượng hóa chất một cách thích hợp, giảm liều do vậy giảm độc tính với toàn thân. Các ưu điểm nổi trội là diệt tế bào ung thư “đúng lúc, đúng chỗ, đúng liều”. Trong số 22 bệnh nhân được điều trị bằng phương pháp này, có 3/4 giữ lại được đôi mắt và một nửa số đó lấy lại được thị lực. Kỹ thuật này mở ra một chân trời mới cho các bệnh nhân bị u nguyên bào võng mạc, vốn từ xưa đến nay hay phải bỏ mắt để ngăn chặn sự tiến triển của bệnh.
Với các u nội nhãn của màng bồ đào (u mống mắt, thể mi, hắc mạc), quan điểm điều trị đã thay đổi hoàn toàn, bên cạnh đó là những hiểu biết mới và vũ khí điều trị mới. Từ quan điểm bỏ mắt là an toàn nhất, chống được di căn, đặc biệt là với bệnh nhân “lười” khám lại như bệnh nhân Việt Nam, nay quan điểm điều trị bảo tồn đến cùng đã được quán triệt.

Người ta đặc biệt cảnh giác với những bệnh nhân u màng bồ đào, chỉ có 1 nhiễm sắc thể số 3 (monosomi) khi làm xét nghiệm di truyền, có thể phải bỏ mắt sớm chủ động do rất hay di căn sau 2 năm phát bệnh. Còn lại ta có vô số lựa chọn để giữ lại con mắt, bảo tồn thị lực cho người bệnh như: Xạ trị (tấm xạ trị, dùng tia proton, xạ trị 3D); Quang trị liệu (quang hóa trị liệu, quang nhiệt, quang động học); Phẫu thuật.
Các máy phát laser thế hệ mới phát xung năng lượng thấp, phát tia kéo dài làm hạn chế biến chứng đáng kể so với các máy thế hệ cũ. Laser quang động dùng vỏ capsid của virus vận chuyển verteporfin vào khối u, sau đó chiếu laser bước sóng 689nm vào có thể tiêu diệt tế bào khối u ngay lập tức là tin mừng trong lĩnh vực điều trị khối u màng bồ đào. Tấm xạ trị chứa Ruthenium có ống chuẩn trực, chế tác 3D cũng là vũ khí điều trị bảo tồn hiệu quả u hắc tố màng bồ đào (melanomas). Chùm tia photon cũng là ứng dụng mới để điều trị các khối u nông, thuộc diện bán phần trước, tránh được hủy hoại thể thủy tinh hay giác mạc. Với u mống mắt có thể laser hay xạ trị định vị chính xác vào khối u, xạ trị toàn bộ mống mắt nếu cần.
Cắt khối u đường ngoài hay đường trong có dùng đèn nội soi, dầu nội nhãn là 2 phương pháp được lựa chọn để điều trị bảo tồn. Sau mổ có thể xạ trị bổ sung vào bờ tổn thương để phòng di căn.
Nhờ những hiểu biết mới về di truyền học qua kỹ thuật giải trình tự gene, sử dụng hóa mô miễn dịch nên các gene bệnh lý được tìm ra nhiều qua đó kiểu di truyền của khối u cũng được thiết lập, nhiều yếu tố tiên lượng được tìm ra thêm...
Cuối cùng là vũ khí điều trị mới với nhóm bệnh này sử dụng thành tựu của giải Nobel Y học năm 2018: Sunitinib ra đời, điều trị melanoma với tỷ lệ sống sót cao hơn hẳn so với các phương pháp khác. Miễn dịch huyết khối dùng Immunoembolization kết hợp với Ipilmumab, điều trị tới cùng - khi u di căn đến gan bằng cách gây huyết khối cho khối u gan bằng hạt cầu phóng xạ gắn Ytrium90 cũng là những lựa chọn mới nhằm bảo tồn thị lực, kéo dài tuổi thọ cho bệnh nhân.
Gần đây các chế phẩm mới về miễn dịch trị liệu liên tục được đưa ra giúp cho điều trị tất cả các khối ác tính của mi, hốc mắt. Đầu tiên là các chế phẩm ức chế PD1 để điều trị các u hắc tố, u tế bào vảy (squamous cell carcinoma) và một vài loại u khác. Một vài loại protein có thể hoạt hóa tế bào lympho T4 được đưa vào cơ thể giúp bệnh nhân lấy lại được quy trình kiểm soát các khối u không những tại mắt mà còn là các bộ phận quanh mắt như da vùng đầu mặt. Các thuốc ức chế PD1 làm tăng tuổi thọ, khống chế di căn từ da vào mắt hay từ da vào hốc mắt rất hiệu quả. Bên cạnh đó là thời gian bệnh không tái phát tại chỗ cũng duy trì được khá ấn tượng.
Các kháng thể đơn dòng, các chất ức chế phân tử nhỏ được coi là những phát minh mới, đầy quyền năng để điều trị các bệnh lý khối u hốc mắt như u lympho hay một số thể viêm tổ chức hốc mắt.
Đầu xuân nói đến những tiến bộ mới trong điều trị ung thư tại mắt như một bài ca mừng xuân mới. Trong cái vui không thể quên rằng: chúng ta vẫn chưa đi vào được gốc rễ bản chất ung thư. Chính vì vậy phòng bệnh bao giờ cũng tốt hơn chữa bệnh.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Những căn bệnh có thể phát hiện khi khám mắt
Sắn dây là thức uống giải nhiệt quen thuộc. Gần đây, một số nghiên cứu cho thấy dược liệu này có thể hỗ trợ kiểm soát huyết áp khi dùng đơn lẻ hoặc phối hợp, tuy nhiên cần sử dụng đúng cách và theo tư vấn chuyên môn.
Nhiệt độ và huyết áp có mối quan hệ nghịch đảo, nghĩa là khi nhiệt độ tăng, huyết áp sẽ giảm.
Việc cho cà phê vào sữa chua là công thức kháng viêm tự nhiên, giàu protein, giàu lợi khuẩn tốt cho đường ruột. Đây là một cách đơn giản bạn có thể áp dụng để chủ động phòng bệnh đường ruột.
Việc đẩy mạnh hoạt động thể thao mùa hè cho trẻ em là giải pháp khoa học nhằm thay thế thói quen sử dụng thiết bị điện tử và giảm áp lực học tập. Vận động ngoài trời không chỉ tăng cường sức bền mà còn kích thích hormone tăng trưởng, hỗ trợ phát triển hệ xương khớp tối ưu, đặc biệt là cải thiện chiều cao trong giai đoạn dậy thì.
Những thành tự nghiên cứu về Bộ gen người vào năm 2003 đã mở ra cánh cửa hiểu biết sâu rộng về di truyền con người. Tuy nhiên, bộ mã DNA không thể giải thích được toàn bộ sự phức tạp về sức khỏe và bệnh tật của từng cá nhân. Di truyền ngoại gen (hay còn gọi là Epigenetic) là một lĩnh vực nghiên cứu các thay đổi trong biểu hiện gen mà không làm thay đổi trình tự DNA. Đây hiện đang là một chủ đề được bàn tán nhiều trong những năm gần đây khi nhu cầu chăm sóc sức khỏe cá nhân ngày càng gia tăng.
Nước ép bưởi mang lại nhiều lợi ích như cấp nước, hỗ trợ tiêu hóa và giảm nguy cơ bệnh. Tuy nhiên, loại đồ uống này cũng tiềm ẩn rủi ro, đặc biệt với một số đối tượng cần thận trọng khi sử dụng thường xuyên.
Dâu tằm là loại quả dân dã nhưng giàu dinh dưỡng, đặc biệt là hàm lượng chất chống oxy hóa dồi dào có lợi cho sức khỏe, nhất là với một số nhóm người cụ thể.
Trầm cảm kháng trị xảy ra khi các triệu chứng của một người không cải thiện sau khi đã thử ít nhất hai loại thuốc chống trầm cảm khác nhau. Một nghiên cứu gần đây đã điều tra tác động của chế độ ăn ketogenic ít carbohydrate đối với người lớn mắc chứng trầm cảm kháng trị.