Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Dậy thì sớm ở trẻ em

Bạn cho rằng chẩn đoán hiện tượng dậy thì sớm ở trẻ khá đơn giản. Nếu cô con gái 6 tuổi của bạn có dấu hiệu phát triển ngực hay cậu con trai 7 tuổi bắt đầu xuất hiện lông vùng dưới cánh tay, liệu những bằng chứng này có là đủ?

Sự thật không phải như vậy. Dậy thì sớm rất khó chẩn đoán, thậm chí ngay cả với những chuyên gia trong lĩnh vực này. Các bác sỹ sẽ phải làm gì để có thể chẩn đoán và lên kế hoạch điều trị cho những trường hợp dậy thì sớm? Dưới đây là một danh sách những vấn đề cần phải xem xét.
Có phải dậy thì sớm hay không?
Trẻ được cho là dậy thì sớm khi bắt đầu ở nữ dưới 8 tuổi và nam dưới 9 tuổi. Thông thường, các bậc phụ huynh sẽ cảm thấy lo ngại khi quan sát thấy một vài dấu hiệu dường như là trẻ dậy thì sớm. Thế nhưng, bác sỹ nội tiết nhi khoa mới là người chẩn đoán chính xác trẻ có dậy thì sớm hay không. 
Theo Tiến sỹ - bác sỹ Paul Kaplowitz, Giám đốc khoa nội tiết, Trung tâm Nhi khoa quốc gia Washington (Mỹ), rất nhiều bậc phụ huynh đưa trẻ đến khám với tâm trạng thực sự lo lắng mà không có lý do chính đáng nào cả. Và chỉ khoảng 10% trong số các trẻ em được cha mẹ đưa đến khám là thực sự có tình trạng dậy thì sớm. Ông cũng quan sát thấy rất nhiều trẻ nhỏ xuất hiện các dấu hiệu như phát triển ngực sớm hoặc mọc lông mu. Những trường hợp này không kèm theo các dấu hiệu khác do đó không được chẩn đoán là dậy thì sớm.
Nếu bạn nghĩ con mình đang có dấu hiệu của dậy thì sớm thì đừng vội kết luận. Hãy đưa trẻ đi khám bác sỹ nội tiết nhi khoa để hiểu rõ hơn và được chẩn đoán xác định.
Ảnh minh họa.
Chẩn đoán dậy thì sớm
Có nhiều cách phân loại hiện tượng dậy thì sớm. Phổ biến nhất là tình trạng dậy thì sớm trung ương, xảy ra khi não bộ khởi động quá trình dậy thì bằng cách kích thích giải phóng sớm nhiều loại hormone khác nhau kéo theo đó là sự hoạt động sớm của trục dưới đồi – tuyến yên – tuyến sinh dục. Dậy thì sớm ngoại vi ít gặp hơn, trong đó, các hormone steroids sinh dục tăng cao do bệnh lý tuyến sinh dục hay thượng thận, một số trường hợp đặc biệt có thể do bài tiết lạc chỗ các hormone hướng sinh dục.
Để chẩn đoán dậy thì sớm, bác sỹ sẽ hỏi và thực hiện một số test kiểm tra, bao gồm:
  • Hỏi  tiền sử gia đình: nếu trong gia đình đã từng có trường hợp dậy thì sớm.
  • Khám tổng thể để đánh giá những thay đổi về mặt sinh lý và thể hình cơ thể.
  • Xét nghiệm máu: đo mức nồng độ một số hormone và tuyến giáp.
  • Chụp X-quang: thường ở cẳng tay và cổ tay để kiểm tra tuổi xương của trẻ. Đây là cách để kiểm tra xem trẻ phát triển nhanh thế nào.
  • Chụp cộng hưởng từ (MRI) não bộ. Cách này đôi khi được sử dụng để kiểm tra các vấn đề bệnh lý gây dậy thì sớm trung ương như là khối u. Tuy nhiên biện pháp này không nên áp dụng rộng rãi cho mọi trẻ em.
  • Siêu âm: siêu âm buồng trứng có thể có ích trong một số trường hợp.
Dậy thì sớm: Lựa chọn điều trị
Đối với dậy thì sớm trung ương, hợp chất tương tự như hormone GnRH là liệu pháp điều trị chuẩn hiện nay. Chất này có tác dụng ức chế việc tiết các hormone của tuyến yên làm thúc đẩy quá trình dậy thì. Thuốc này được sử dụng bằng nhiều cách: tiêm bắp mỗi tháng một lần; hoặc tiêm dưới da hàng ngày; hoặc cấy dưới da mặt trong cánh tay dưới dạng tuyp nhỏ sẽ giải phóng dần dần vào cơ thể. Ngoài ra còn có dạng thuốc xịt mũi dùng hàng ngày, nhưng ít phổ biến.
Hợp chất tương tự GnRH có tác dụng khá tốt. Trong tháng đầu điều trị, những dấu hiệu của dậy thì có thể xuất hiện rõ rệt hơn. Tuy nhiên sau đó, chúng sẽ biến mất. Theo Kaplowitz, ở các bạn gái, ngực sẽ thu nhỏ lại sau 6 đến 12 tháng điều trị. Một số trường hợp khác, chúng gần như biến mất hoàn toàn.
Các tác dụng phụ của hợp chất tương tự GnRH thường nhẹ, gồm có: đau đầu, các triệu chứng của mãn kinh (như nóng bừng mặt), và áp-xe tại vị trí tiêm. Không có bằng chứng cho thấy những chất này sẽ gây ra những vấn đề lâu dài.
Các biện pháp điều trị khác bao gồm:
  • Progestin: tiêm progestin cũng được coi là biện pháp điều trị chuẩn cho dậy thì sớm trung ương. Tuy nhiên thuốc này kém tác dụng hơn so với hợp chất tương tự GnRH.
  • Các biện pháp khác: Phẫu thuật và xạ trị có thể cần thiết trong trường hợp dậy thì sớm trung ương được kích hoạt do một khối u ở não. Việc cắt bỏ khối u không phải luôn luôn giải quyết được tất cả các triệu chứng.
Vậy các biện pháp này có tác dụng duy trì trong bao lâu? Điều này phụ thuộc vào mỗi cá nhân và tốc độ lớn của trẻ. Một vài nghiên cứu cho rằng các biện pháp này sẽ không có tác dụng khi trẻ trên 11 tuổi.
Đối với trường hợp dậy thì sớm ngoại biên: việc điều trị hoàn toàn khác, phụ thuộc vào nguyên nhân gây nên hiện tượng này. Trong một số trường hợp, cần thiết phải phẫu thuật để loại bỏ khối u hay u nang khỏi buồng trứng hay tinh hoàn. Đôi khi thuốc điều trị cũng có tác dụng tốt.
Dậy thì sớm trung ương: Cân nhắc điều trị
Tuy việc điều trị dậy thì sớm trung ương có hiệu quả khá tốt nhưng không phải áp dụng cho mọi trẻ em. Vậy các bác sỹ sẽ quyết định ra sao? Dưới đây là một số điều bác sỹ sẽ phải cân nhắc.
Thời điểm kể từ lúc chẩn đoán: Sau khi quan sát thấy những dấu hiệu dậy thì sớm ở trẻ, bác sỹ có thể phải đợi tới 6 tháng trước khi quyết định điều trị cho trẻ. Bởi vì ở một số trẻ có dấu hiệu rõ ràng của dậy thì sớm, các triệu chứng lại có dấu hiệu chậm lại hay tự chấm dứt. Khi đó việc điều trị sẽ không cần thiết
Tuổi của trẻ: Trẻ càng nhỏ thì bác sỹ càng khuyến cáo điều trị. Một cô bé 7 tuổi rưỡi với dấu hiệu dậy thì sớm có thể không cần điều trị bởi đây là độ tuổi khá gần với thời điểm bình thường của dậy thì. Việc điều trị có thể mang lại hiệu quả tốt hơn đối với trẻ khoảng 5 – 6 tuổi.
Tốc độ phát triển: Tốc độ dậy thì là mấu chốt của vấn đề. Nếu một cô bé có dấu hiệu của phát triển ngực nhưng quá trình này xảy ra chậm thì bác sỹ có thể khuyến cáo không cần điều trị. Tuy nhiên nếu tốc độ phát triển quá nhanh – thậm chí với cả trẻ lớn thì điều trị có thể là điều cần thiết.
Chiều cao hiện tại: Kaplowitz nói rằng nếu không được điều trị, phần lớn trẻ bị dậy thì sớm trung ương sẽ đạt tới chiều cao trung bình như người lớn. Tuy nhiên, một số trẻ sẽ có nguy cơ bị lùn khi trưởng thành, nhất là những trẻ dưới 6 tuổi và những trẻ thấp hơn so với tuổi trung bình khi chúng bắt đầu xuất hiện những dấu hiệu này. Đối với những trẻ này thì bác sỹ sẽ khuyên nên điều trị.
Sự trưởng thành về mặt cảm xúc: điều này có liên quan tới tuổi, nhưng đó là một vấn đề riêng biệt. Một vài trẻ sẽ có khoảng thời gian khó khăn do những thay đổi về thể chất và cảm xúc ở tuổi dậy thì. Một số bé gái sẽ cảm thấy bối rối hay sợ hãi khi kinh nguyệt xuất hiện.
Ảnh minh họa.
Đồng hành cùng bác sỹ
Theo Josefson, nếu bạn nghĩ rằng con bạn có những dấu hiệu của dậy thì sớm, cần tìm kiếm sự giúp đỡ ngay. Nếu để quá trễ, mọi chuyện sẽ khó kiểm soát hơn. Không có một công thức chắc chắn để quyết định xem khi nào trẻ nên được điều trị. Điều quan trọng là phải tìm được bác sỹ hay chuyên gia mà bạn cảm thấy tin cậy.
Hãy cố gắng giữ bình tĩnh và giúp trẻ cảm thấy an tâm. Đôi khi bạn quá lo lắng về những hậu quả của hiện tượng dậy thì sớm nhưng con bạn có thể không gặp phải vấn đề gì.
Nếu trẻ cảm thấy tự ti về những thay đổi cơ thể hay bị trêu chọc ở trường, hãy nhờ đến sự giúp đỡ tư vấn của bác sỹ điều trị có kinh nghiệm.
Hãy trò chuyện với con
Đừng phó mặc mọi chuyện cho bác sỹ. Bản thân cha mẹ cũng có vai trò rất quan trọng trong vấn đề này. Cha mẹ thực sự cần phải giáo dục trẻ về hiện tượng dậy thì sớm, về những vấn đề gặp phải khi cơ thể thay đổi. Khi cha mẹ dành thời gian giải thích những điều sẽ xảy ra và chuẩn bị sẵn sàng cho trẻ, họ thường giải quyết việc đó rất tốt.
Một trong số những điều quan trọng nhất mà bạn có thể làm là hãy cố gắng trấn an trẻ rằng trẻ hoàn toàn bình thường. Cha mẹ nên giúp trẻ hiểu rằng chứng dậy thì sớm không phải là một vấn đề quá nghiêm trọng và có thể can thiệp được. Trẻ chỉ đang trải qua quá trình phát triển bình thường mà ai cũng phải trải qua. Con bạn có thể sẽ bắt đầu giai đoạn đó sớm hơn những trẻ khác nhưng điều đó là hoàn toàn bình thường.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Trò chuyện với con khi con bước vào tuổi dậy thì
Ths.Bs.Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 10/01/2026

    Tác dụng của caffeine với chứng đau đầu

    Mối liên hệ giữa caffeine và chứng đau đầu rất phức tạp, vì caffeine vừa có thể giúp giảm đau vừa có thể gây đau đầu. Việc xác định xem caffeine có phải là thủ phạm gây đau đầu hay không có thể cần phải thử nghiệm nhiều lần.

  • 09/01/2026

    Nestlé Việt Nam chủ động thu hồi 17 lô sữa nhằm mục đích phòng ngừa

    Tối 8/1, công ty Nestlé Việt Nam đã phát thông báo chủ động thu hồi 17 lô sữa công thức thương hiệu NAN dành cho trẻ nhỏ "nhằm mục đích phòng ngừa" sau khi tập đoàn mẹ thu hồi nhiều loại sữa trên toàn cầu.

  • 09/01/2026

    Cách chế biến cải bó xôi thành món ngon, tốt cho sức khỏe

    Để cải bó xôi không chỉ là món ăn ngon mà còn là 'vị thuốc' cho sức khỏe, cần biết cách sơ chế và chế biến đúng giúp tối ưu lợi ích.

  • 09/01/2026

    Phân biệt bệnh Tay chân miệng và bệnh Thuỷ đậu ở trẻ

    Thủy đậu và bệnh tay chân miệng là hai bệnh gây ra bởi vi-rút truyền nhiễm và đều có thể gây sốt, lở miệng và mụn nước trên da. Mặc dù hai bệnh này có vẻ giống nhau, nhưng chúng có thể có các biến chứng khác nhau. Việc biết cách phân biệt chúng là rất quan trọng. Trong bài viết này, chúng ta sẽ so sánh hai loại bệnh này, bao gồm cả cách các triệu chứng và phát ban phát triển cũng như cách phòng bệnh hiệu quả!

  • 08/01/2026

    Thêm nhiều nước thu hồi sản phẩm sữa công thức của Nestle

    Thống kê của Nestle cùng thông báo của Bộ Y tế nhiều nước ngày 7/1 cho thấy làn sóng thu hồi sản phẩm dinh dưỡng cho trẻ sơ sinh của công ty có trụ sở tại Thụy Sĩ đã vượt ra khỏi châu Âu tới những quốc gia ở châu Mỹ và châu Á, trong đó có Trung Quốc và Brazil.

  • 08/01/2026

    Người bệnh đái tháo đường cần ăn bao nhiêu muối để an toàn cho tim mạch?

    Khi mắc bệnh đái tháo đường, bên cạnh việc kiểm soát tinh bột, người bệnh cần đặc biệt chú ý đến lượng muối tiêu thụ. Việc nạp quá nhiều natri có thể làm tăng nguy cơ biến chứng tim mạch nghiêm trọng.

  • 08/01/2026

    Ảnh hưởng của ô nhiễm không khí đến sức khỏe hô hấp

    Ô nhiễm không khí đang trở thành một trong những mối đe dọa lớn nhất đối với sức khỏe con người trên toàn cầu. Sức khỏe hô hấp chịu tác động nghiêm trọng từ các hạt bụi mịn, khí độc và hợp chất hóa học trong không khí không chỉ gây ra các triệu chứng tức thời như ho, khó thở mà còn dẫn đến các bệnh lý mãn tính nguy hiểm. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ phân tích tác động của ô nhiễm không khí đến hệ hô hấp và đề xuất các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả.

  • 07/01/2026

    Bộ Y tế: 2 đối tượng được tăng mức hưởng khám chữa bệnh BHYT lên 100% từ năm 2026

    Bộ Y tế cho biết, Nghị quyết số 261/2025/QH15 quy định: "Người tham gia BHYT thuộc hộ gia đình cận nghèo, người cao tuổi từ đủ 75 tuổi trở lên đang hưởng trợ cấp hưu trí xã hội được áp dụng mức hưởng 100% chi phí khám bệnh, chữa bệnh trong phạm vi được hưởng của người tham gia BHYT..." Bộ Y tế ngày 6/1 đã có văn bản hoả tốc gửi Bảo hiểm xã hội Việt Nam (Bộ Tài chính); Các Sở Y tế tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; Các cơ sở khám bệnh, chữa bệnh trong toàn quốc về việc chuyển đổi mã quyền lợi đối tượng tham gia BHYT theo Nghị quyết số 261/2025/QH15.

Xem thêm