Những ai có thể sử dụng PrEP
Hiện nay Bộ Y tế hướng dẫn các đối tượng sau nên dùng PrEP để dự phòng lây nhiễm HIV, cụ thể là: Nam có quan hệ tình dục đồng giới; Người chuyển giới nữ; Người bán dâm; Người tiêm chích ma túy; Bạn tình của người nhiễm HIV mà người nhiễm HIV đó chưa điều trị ARV hoặc điều trị ARV nhưng tải lượng HIV chưa đạt dưới ngưỡng phát hiện vi rút (vẫn còn trên 200 bản sao/ml máu).
PrEP có phải là vắc xin không?
Phải khẳng định luôn rằng PreP không phải là vắc xin. Vắc xin giúp hệ miễn dịch sinh ra kháng thể của cơ thể để chống lại một nhiễm trùng nào đó trong thời gian dài. Còn PrEP là sự kết hợp của 2 loại thuốc kháng vi rút để dự phòng lây nhiễm HIV. PrEP cần phải được uống mỗi ngày. Khi dừng, thuốc hết tác dụng.

Một người đang dùng PrEP, khi nào dừng sử dụng?
TS.BS Hoàng Đình Cảnh, Phó cục trưởng Cục phòng chống HIV/AIDS cho biết, khách hàng có thể chủ động dừng PrEP vì các lý do cá nhân như không còn hành vi nguy cơ lây nhiễm HIV hoặc do tác dụng phụ của thuốc... Tuy nhiên trước khi dừng thuốc, cần trao đổi với bác sĩ để đảm bảo không bị lây nhiễm HIV.
Thầy thuốc có thể chỉ định cho khách hàng dừng sử dụng PrEP khi:
-Khách hàng đã thay đổi hành vi và không còn nguy cơ lây nhiễm HIV, ví dụ: luôn sử dụng bao cao su đúng cách mỗi lần quan hệ tình dục; không sử dụng chung bơm kim tiêm…
-Khách hàng chỉ có một bạn tình mà bạn tình có HIV âm tính và không có hành vi nguy cơ cao.
-Vợ/chồng hoặc bạn tình nhiễm HIV đã điều trị ARV trên 6 tháng và có tải lượng vi rút đạt dưới ngưỡng phát hiện (dưới 200 bản sao/ml máu).
-Không có quan hệ tình dục.
Khi có chỉ định ngừng PrEP, khách hàng là người quan hệ tình dục qua đường âm đạo hoặc người dự phòng nguy cơ lây nhiễm qua đường máu cần tiếp tục sử dụng đến hết 28 ngày sau lần phơi nhiễm cuối cùng. Đối với người nam quan hệ tình dục đồng giới qua hậu môn cần tiếp tục sử dụng thuốc PrEP 2 ngày sau lần quan hệ tình dục cuối cùng.
Nếu dùng PrEP, có cần sử dụng thêm bao cao su khi quan hệ tình dục?

PrEP làm giảm nguy cơ lây nhiễm HIV nhưng vẫn có một tỷ lệ nhỏ có khả năng lây nhiễm HIV nếu không sử dụng bao cao su.
PrEP chỉ giúp phòng lây nhiễm HIV mà không phòng được các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác, không có tác dụng tránh thai, trong khi đó bao cao su vừa có tác dụng tránh lây nhiễm HIV vừa phòng các bệnh lây truyền qua đường tình dục như lậu, giang mai viêm gan B, C...và giúp phòng tránh mang thai ngoài ý muốn.
Vì vậy, để an toàn nhất, bạn luôn dùng PrEP và sử dụng bao cao su khi quan hệ tình dục như biện pháp bổ sung cho nhau.
PrEP khác gì với K=K như thế nào?
K = K (viết tắt là Không phát hiện = Không lây truyền): Là những người đã nhiễm HIV điều trị thuốc ARV mỗi ngày để đạt được ức chế tải lượng HIV dưới 200 bản sao/ml máu – và thường đạt được sau 6 tháng uống thuốc, khi đó không làm lây truyền HIV sang bạn tình của họ.
PrEP là người chưa nhiễm HIV uống thuốc ARV để dự phòng không bị lây nhiễm HIV qua các hành vi nguy cơ.
Thuốc PrEP là kết hợp 2 loại thuốc kháng vi rút, còn thuốc điều trị cho người nhiễm HIV để đạt được K=K là kết hợp 3 loại thuốc kháng vi rút. Dù cùng có bản chất là thuốc kháng vi rút nhưng đây là sự kết hợp thuốc khác nhau cho mục đích sử dụng khác nhau.
Dự phòng trước và sau phơi nhiễm HIV giống và khác nhau như thế nào?
Mặc dù đều là dự phòng nhiễm HIV bằng thuốc kháng HIV nhưng chúng có những điểm giống và khác nhau cơ bản như sau:
Giống nhau:
PrEP (Dự phòng trước phơi nhiễm) và PEP (Dự phòng sau phơi nhiễm) đều là biện pháp dự phòng lây nhiễm HIV bằng cách uống thuốc ARV.
PrEP và PEP đều áp dụng cho người chưa nhiễm HIV nhưng có nguy cơ nhiễm HIV.
Khác nhau:
|
|
PrEP |
PEP |
|
Về tên gọi |
Dự phòng trước phơi nhiễm |
Dự phòng sau phơi nhiễm |
|
Uống khi nào? |
Trước khi phơi nhiễm HIV Uống mỗi ngày trước khi có nguy cơ nhiễm HIV |
Sau khi phơi nhiễm HIV Điều trị khẩn cấp: uống trong vòng 72 giờ sau phơi nhiễm HIV |
|
Ai cần dùng? |
Người chưa nhiễm HIV nhưng:
|
Người chưa nhiễm HIV nhưng đã bị phơi nhiễm HIV:
|
|
Hiệu quả |
Giảm nguy cơ lây nhiễm HIV qua quan hệ tình dục hơn 90% và tiêm chích ma túy tới 70%. |
Phòng lây nhiễm HIV nếu uống đúng đủ và càng sớm càng tốt. |
Thế nào là PrEP theo tình huống?
Hầu hết người sử dụng PrEP là dùng thuốc ARV uống hàng ngày để dự phòng lây nhiễm HIV. Tuy nhiên còn có thể dùng PrEP không thường xuyên, tức là chỉ khi có tình huống, là khi dự đoán sẽ có quan hệ tình dục với bạn tình có nguy cơ lây nhiễm HIV, khi đó sẽ dùng PrEP trước và sau khi quan hệ tình dục để dự phòng lây nhiễm HIV, người ta gọi là dùng PrEP theo tình huống.

PrEP theo tình huống chỉ dùng cho đối tượng nam quan hệ tình dục đồng giới có chỉ định dùng PrEP và khi tần suất quan hệ tình dục trung bình dưới 2 lần/tuần. Những người này cũng cần chắc chắn rằng có thuốc để đảm bảo được việc dùng thuốc ARV trong vòng 2-24 giờ trước khi quan hệ tình dục.
Không sử dụng PrEP theo tình huống cho: Phụ nữ hoặc người chuyển giới nữ; Chuyển giới nam có quan hệ tình dục qua đường âm đạo; Nam quan hệ tình dục với nữ qua đường âm đạo/hậu môn.; Người có viêm gan B mạn tính; Người tiêm chích ma túy.
Về cơ bản, khi một khách hàng muốn dùng PrEP sẽ được bác sĩ trao đổi trước khi đưa ra quyết định dùng PrEP theo tình huống hay PrEP hàng ngày là phù hợp với họ. Lịch khám và theo dõi sử dụng PrEP theo tình huống giống như PrEP hàng ngày.
Về cách sử dụng PrEP uống theo tình huống: Do không uống hàng ngày nên PrEP sẽ được dùng theo công thức: 2 + 1 + 1 tức là:
-Uống 2 viên (liều đầu tiên) trước khi quan hệ tình dục 24 giờ, chậm nhất là 2 giờ trước khi có quan hệ tình dục.
-Uống viên thứ 3: sau 24 giờ tính từ khi uống liều đầu tiên
-Uống viên thứ 4: sau 24 giờ tính từ khi uống liều thứ hai.
Nếu uống đúng hướng dẫn, người có quan hệ tình dục đồng giới cũng có thể bảo vệ khỏi lây nhiễm HIV.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: PrEp theo tình huống- Thêm một lựa chọn điều trị dự phòng trước phơi nhiễm HIV
Trà xanh và trà đen đều là nguyên liệu từ cây trà. Sự khác biệt chính nằm ở cách chế biến, hàm lượng caffeine và chất chống oxy hóa. Vậy loại nào tốt cho sức khỏe hơn?
Gan là cơ quan chuyển hoá trung tâm của cơ thể, giữ vai trò then chốt trong chuyển hoá dinh dưỡng, tổng hợp protein, bài tiết mật và giải độc.
Thời tiết lạnh có thể khiến bạn cảm thấy sảng khoái, nhưng bạn có biết nguy cơ đau tim tăng mạnh vào mùa đông khi nhiệt độ giảm không? Tim của bạn phải làm việc nhiều hơn khi trời lạnh, điều này khiến các cơn đau tim có dịp xuất hiện ở những người đã có sẵn vấn đề tim mạch. Không khí lạnh có thể gây ra những cơn đau ngực, tăng huyết áp và gây căng thẳng đột ngột cho hệ thống tim mạch của bạn vào mùa đông. Hãy cùng tìm hiểu với bài viết dưới đây để tìm hiểu rõ hơn về vấn đề tim mạch trong mùa đông và cách phòng ngừa.
Bánh mì thường bị gắn mác là 'thủ phạm' gây tăng cân và là nguyên nhân gây ra các vấn đề về đường huyết. Tuy nhiên, bánh mì không hoàn toàn xấu mà nằm ở loại bánh mì bạn chọn và cách bạn tiêu thụ nó.
Ngày 07 tháng 01 năm 2026, Bộ Nông nghiệp Mỹ (USDA) công bố Hướng dẫn Chế độ ăn uống giai đoạn 2025 – 2030 (gọi tắt là Hướng dẫn dinh dưỡng) trong bối cảnh sức khỏe của người dân Mỹ đang ở mức báo động: gần 50% người Mỹ có nguy cơ mắc bệnh tiểu đường, 75% người trưởng thành mắc ít nhất 1 bệnh mãn tính và 90% chi phí y tế được dùng để điều trị các bệnh mãn tính.
Thải độc cơ thể đúng cách, đặc biệt là hỗ trợ chức năng thận, đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe lâu dài. Một số loại thức uống buổi sáng giúp thanh lọc thận tự nhiên, tăng cường trao đổi chất, hỗ trợ giảm cân và góp phần ngăn ngừa bệnh gout (gút)
Thời điểm này, nguồn cung hàng hóa, thực phẩm Tết hiện khá dồi dào để người tiêu dùng cân nhắc, lựa chọn các mặt hàng phù hợp với nhu cầu của bản thân và gia đình mình. Tất nhiên, tiêu chí chất lượng và an toàn vẫn được đặt lên hàng đầu.
Bacillus cereus (B. cereus) là một vi sinh vật tiết ra các độc tố có hại, đây cũng chính là thủ phạm gây ra ngộ độc trong các sản phẩm thực phẩm không đạt chuẩn trên thị trường hiện nay, bao gồm một số loại sữa, cơm nguội và các món ăn khác. Bằng cách tiết ra một loại độc tố tên là Cereulide, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa. Tuy nhiên đấy không phải là tất cả, B. cereus có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn và nguy hiểm đến tính mạng con người. Cùng tìm hiểu về vi khuẩn B. cereus qua bài viết sau đây!