Bệnh lý hố gai thị có tỷ lệ hiện mắc khoảng 1/11.000, phần lớn là bẩm sinh. Tuy nhiên, cũng có thể là mắc phải, thứ phát sau glôcôm hoặc cận thị. Các trường hợp mắc phải thường xảy ra trên nữ giới, vị trí tổn thương thường ở phía dưới của gai thị. Đa phần chỉ bị ở một bên mắt nhưng vẫn có ở cả hai mắt với tỷ lệ từ 21-48%, trung bình là 15%. Bệnh lý hoàng điểm trên ODP chiếm 25-75% tổng số bệnh nhân. Biến chứng này biểu hiện bằng bong thanh dịch võng mạc, nang hóa, thay đổi biểu mô sắc tố vùng hoàng điểm.
Nguyên nhân và yếu tố nguy cơ
Cơ chế bệnh sinh về ODP còn chưa được hiểu biết đầy đủ và không đồng thuận cao về phương thức điều trị. Một số bệnh hiếm được cho là yếu tố nguy cơ của ODP hay các dị thường khác của đĩa thị. Có thể kể ra như bệnh lý của nền sọ, hội chứng Aicardi, hội chứng Alagille, thiểu sản thận hai bên và khuyết phát triển thần kinh đường giữa.
Làm sao phát hiện được bệnh?
ODP hầu hết không có biểu hiện lâm sàng và được chẩn đoán tình cờ qua soi đáy mắt, mặc dù đôi khi chúng có thể gây ra khuyết thị trường dạng ám điểm hình vòng cung. Nhìn chung, ODP có triệu chứng khi nó đã gây ra biến chứng là hội chứng hoàng điểm, xuất hiện ở tuổi 30-40, diễn tiến nhanh, tổn hại thị lực nhiều, gây nang hóa hoàng điểm và bong thanh dịch vùng này. Tuy nhiên, hội chứng hoàng điểm trên ODP có thể xảy ra ở bất cứ tuổi nào. Thị lực giảm sâu tới 20/200, có khi hơn. Hồi phục thị lực do hết phù và hết bong thanh dịch tự nhiên gặp khoảng 25% các trường hợp. Chẩn đoán ODP có được khi thăm khám đáy mắt, chụp OCT thị thần kinh và chụp mạch huỳnh quang. Nếu không khám đáy mắt kỹ càng, thiếu dụng cụ hoặc kinh nghiệm, bệnh có thể sẽ bị bỏ qua.

Chẩn đoán phân biệt
Nên chẩn đoán phân biệt hố gai thị với các bệnh lý sau đây:
Thiểu sản thị thần kinh, đi kèm với gai thị nhỏ bất thường.
Gai thị khổng lồ: biểu hiện bằng đĩa thị rộng ra, tăng tỷ lệ C/D, lõm đĩa tăng theo chiều ngang.
Hội chứng Glory Morning: biểu hiện bằng vùng lồi dạng phễu, gai thị giãn rộng, tăng số lượng mạch máu gai thị.
Khuyết gai thị: đặc trưng là lõm phía dưới và thường đi kèm với khuyết mống mắt, khuyết hắc mạc.
Ngược với tất cả những bệnh lý trên đây, ODP thường biểu hiện bằng diện lõm tròn với đĩa thị bình thường hoặc thị thần kinh hơi to, có thể phối hợp với tổn thương vùng hoàng điểm.
Phù hoàng điểm và bong thanh dịch trên bệnh nhân ODP-M có thể điều trị bảo tồn. Tuy nhiên, nếu chỉ chờ đợi khó mà mong thị lực tốt lên. Do vậy, một số phương pháp phẫu thuật nên được tính đến. Điều trị ODP có thể bằng PPV, ấn độn vùng hoàng điểm và một vài phẫu thuật khác. Điều trị phẫu thuật thường cho kết quả thị lực tốt.
Cắt dịch kính và một vài phương thức điều trị bổ sung (PPV): Đây là phương pháp phổ biến được chấp nhận để điều trị bong thanh dịch vùng hoàng điểm trên bệnh nhân ODP. Làm bong dịch kính sau hoàn toàn khá quan trọng vì được coi là sẽ giải phóng co kéo tiềm tàng lên vùng hoàng điểm. Bổ sung vào PPV có thể là phẫu thuật bóc màng ngăn trong, laser và độn gas hoặc silicon.
Cho dù laser quang đông đôi khi được sử dụng như phương thức điều trị duy nhất cho bong thanh dịch vùng hoàng điểm trong ODP-M nhưng laser đơn thuần đem lại thị lực đầu ra tồi hơn điều trị bằng cắt dịch kính. Hiện nay, điều trị ODP bằng cắt dịch kính kèm theo với độn gas là khá phổ biến. Bơm vào dịch kính gas như perfluoethane, sulfur hexafluoride hoặc perfluoropropane là nỗ lực nhằm hàn gắn vùng hoàng điểm trong ODP-M. Kỹ thuật này thường được bổ sung sau phẫu thuật CDK hoặc laser.
Phẫu thuật này đưa một miếng độn vào cực sau của nhãn cầu nhằm ấn độn ngay vào vùng hoàng điểm. Cho dù nó cho kết quả vãn hồi thị lực khá tốt cho những bệnh nhân có bong hoàng điểm nhưng không dễ thực hiện, đòi hỏi phải được đào tạo. Do vậy, phương pháp này không được phổ biến như phẫu thuật cắt dịch kính.
Các kỹ thuật khác: Các phương pháp điều trị dưới đây cũng mang lại nhiều kết quả đáng hứa hẹn.
Tiêm tiểu cầu tự thân lên vùng ODP sau phẫu thuật PPV cũng cho những kết quả đầy hứa hẹn cho ODP-M có bong vùng hoàng điểm.
Cắt dịch kính cùng với mở cửa sổ lớp trong võng mạc hình nan hoa là kỹ thuật mới nhất cho kết quả tiêu hết dịch dưới vùng hoàng điểm tới 94%.
Hàn gắn vùng ODP bằng mảnh củng mạc tự thân cũng được báo cáo như một phương pháp áp lại võng mạc và cải thiện thị lực.
PPV và rạch phía thái dương của đĩa thị được cho là có thể tạp rào chắn do hình thành sẹo để ngăn cản luân chuyển dịch và sau đó làm tiêu biến dịch được 86% số mắt bị bệnh.
Tóm lại, hố gai thị là bệnh lý hiếm gặp của thị thần kinh có thể gây ra biến chứng dẫn tới mất thị lực. Cho dù là hiếm gặp nhưng hiểu biết về căn bệnh này là cần thiết để phòng ngừa tiến triển của bệnh cũng như lựa chọn cách điều trị khi có biến chứng.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: Các nhà khoa học tìm ra cách chữa bệnh mù lòa bằng liệu pháp gene
Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.
Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.
Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!
Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.
Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.
Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!
Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.
Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.