Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Bất đồng yếu tố Rh ở trẻ sơ sinh

Yếu tố Rh là một loại protein được di truyền hiện diện trên bề mặt tế bào hồng cầu. .

Hầu như tất cả mọi người đều có loại protein và được gọi là người có “yếu tố Rh dương tính (+)”. Tuy nhiên, một số ít người không có yếu tố Rh, họ được gọi là người có “yếu tố Rh âm tính (-)”

Phụ nữ mang thai có Rh (-) có nguy cơ sinh con bị mắc một chứng bệnh thiếu máu rất nguy hiểm gọi là bất đồng yếu tố Rh. May mắn là nếu được điều trị sớm có thể dự phòng được căn bệnh này ở trẻ sơ sinh.

Rh ảnh hưởng đến thai nhi và trẻ sơ sinh như thế nào?

Tình trạng bất đồng yếu tố Rh giữa mẹ và thai nhi sẽ làm hủy hoại các tế bào hồng cầu của thai nhi, là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây thai chết lưu và tử vong ở trẻ sơ sinh.

Ở trẻ sơ sinh, bất đồng yếu tố Rh có thể gây vàng da, vàng mắt, thiếu máu, tổn thương não, suy tim và tử vong. Căn bệnh này không ảnh hưởng đến sức khỏe của người mẹ.

Nguyên nhân gây bất đồng yếu tố Rh

Một người mẹ có Rh (-) và người cha có Rh (+) có thể sinh con với Rh (+). Trong quá trình mang thai đứa trẻ Rh(+) này, một số tế bào hồng cầu với Rh (+) của thai nhi có thể vào trong máu mẹ trong thời gian thai kỳ hoặc chuyển dạ và sinh con. Do các tế bào máu mang Rh (+) được coi là những kháng nguyên lạ đối với hệ miễn dịch của người mẹ, cơ thể mẹ sẽ sản xuất ra các kháng thể để chống lại những tế bào này. 

Khi đó, các kháng thể của mẹ sẽ đi qua nhau thai và tiêu hủy các tế bào hồng cầu Rh (+) của thai nhi. Nếu lần mang thai đầu của người mẹ mang thai là đứa trẻ với Rh (+), thường sẽ không có vấn đề gì quá nghiêm trọng bởi trẻ thường được sinh ra trước khi người mẹ tạo ra các kháng thể kháng Rh (+). Tuy nhiên, sau lần sinh đó cơ thể  người mẹ sẽ tiếp tục sản xuất ra các kháng thể kháng Rh (+) trong suốt cuộc đời. Có nghĩa là trong những lần mang thai sau này, nếu đứa con tiếp tục mang Rh (+) thì tình trạng bệnh sẽ trở nên nặng hơn rất nhiều. Thai nhi trong các lần mang thai sau đó có thể bị chết lưu hoặc sẩy thai.

Làm sao để biết được mình có mang Rh (-)?

Một xét nghiệm máu đơn giản sẽ giúp xác định được một người phụ nữ thuộc nhóm Rh nào. Mọi phụ nữ độ tuổi sinh đẻ nên kiểm tra nhóm máu của mình tại lần khám thai đầu tiên hoặc trước khi mang thai để phát hiện sớm mình có mang Rh (-) hay không.

Bất đồng yếu tố Rh có thể được phòng ngừa bằng cách nào?

Phụ nữ mang thai có Rh (-) mà cơ thể chưa sản xuất kháng thể chống lại Rh (+) có thể được điều trị bằng cách tiêm globulin miễn dịch chứa yếu tố Rh. Tốt nhất là người mẹ nên được tiêm globulin miễn dịch vào tuần 28 thai kỳ và lặp lại trong vòng 72 giờ sau khi sinh nếu xét nghiệm máu cho thấy em bé mang Rh (+) (Theo ACOG, 1999).

Tuy nhiên, người mẹ sẽ không cần tiêm sau khi sinh nếu em bé cũng có Rh (-). Một số chuyên gia khuyến cáo người mẹ nên tiêm thêm một mũi globulin miễn dịch nếu người đó qua thời điểm sinh dự kiến mà vẫn chưa có dấu hiệu chuyển dạ (ACOG, 1999; Moise, 2008).

Phụ nữ mang Rh (-) nên được điều trị với globulin miễn dịch Rh sau bất cứ trường hợp nào mà tế bào hồng cầu của thai nhi trộn lẫn với máu người mẹ, bao gồm:

  • Sảy thai
  • Mang thai ngoài tử cung
  • Nạo phá thai
  • Chọc dò dịch ối
  • Sinh thiết gai nhau
  • Chấn thương vùng bụng
  • Xoay thai bên ngoài (khi bác sỹ thực hiện thủ thuật xoay lại vị trí của thai nhi bị ngược trở lại vị trí xuôi trước khi sinh)

Mọi phụ nữ có Rh (-) chưa bị mẫn cảm cần phải điều trị với globulin miễn dịch hay không?

Người mẹ sẽ không phải điều trị với globulin miễn dịch nếu người cha cũng mang Rh (-). Nếu người cha có Rh (+), đứa trẻ có Rh (-) cũng sẽ không xảy ra vấn đề gì.

Cơ chế tác dụng của globulin miễn dịch

Globulin miễn dịch Rh có chứa các kháng thể đối với yếu tố Rh có khả năng nhắc nhở một số tế bào miễn dịch nhất định thực hiện chức năng loại bỏ các tế bào mang Rh (+) khỏi máu của người mẹ. Do đó, cơ thể mẹ sẽ không còn tạo ra các kháng thể kháng các tế bào hồng cầu mang Rh (+) của thai nhi nữa (Moise, 2008).

Việc điều trị hợp lý với globulin miễn dịch có thể phòng hiện tượng mẫn cảm ở hầu hết các phụ nữ mang Rh (-) (ACOG, 1999). Tuy nhiên, globulin miễn dịch này sẽ không có hiệu quả đối với những phụ nữ đã bị mẫn cảm. Nguyên nhân chủ yếu khiến những người phụ nữ Rh(-) trở nên mẫn cảm là do họ không được điều trị kịp thời, ví dụ như sau khi bị sảy thai không rõ nguyên nhân.

Liệu có biện pháp nào giúp loại bỏ các kháng thể đã được gây mẫn cảm trong cơ thể người mẹ hay không?

Câu trả lời là không. Ngay cả khi người phụ nữ không biểu hiện triệu chứng gì và vẫn sống khỏe mạnh, cơ thể người đó có thể tiếp tục tạo ra các kháng thể trong máu. Nếu người đó tiếp tục mang thai những đứa trẻ có Rh (+), chúng có thể bị bất đồng yếu tố Rh với mẹ.

Một người phụ nữ Rh (-) đã được gây mẫn cảm cần phương pháp điều trị đặc biệt gì trong thai kỳ?

Người cha cần thực hiện xét nghiệm máu để xác định xem anh ta mang Rh (-) hay (+). Nếu người cha có Rh (-), đứa con sẽ không có nguy cơ bị bất đồng yếu tố Rh, và người mẹ sẽ không cần một phương pháp điều trị đặc biệt nào.

Nếu người cha có Rh (+) (hoặc chưa xác định), bác sỹ sẽ chỉ định cho những phụ nữ mang thai đã bị mẫn cảm làm thủ thuật chọc dò dịch ối để xác định xem đứa trẻ mang Rh (-) hay (+).

Một xét nghiệm máu ở phụ nữ có thai cho thấy độ chính xác cao trong việc xác định yếu tố Rh ở thai nhi. Phương pháp này gần đây đã được thực hiện ở Mỹ và có thể giảm thiểu việc thực hiện các xét nghiệm chọc dò dịch ối amniocentesis (Van der Schoot, Hahn & Chitty, 2008). 

Nếu thai nhi có Rh (+) (hoặc nếu Rh của thai nhi chưa rõ), bác sỹ sẽ đo nồng độ kháng thể trong máu người mẹ trong quá trình mang thai. Nếu người mẹ có mức kháng thể tăng cao, bác sỹ sẽ khuyến cáo thực hiện các xét nghiệm để biết được liệu đứa trẻ có bị bất đồng yếu tố Rh với người mẹ hay không.

Các xét nghiệm để đánh giá tình trạng sức khỏe của trẻ

Rất nhiều cơ sở y tế đều thực hiện một phương pháp kiểm tra gọi là siêu âm Doppler để theo dõi tình trạng thiếu máu của thai nhi. Phương pháp này được lặp lại mỗi 1 – 2 tuần, có khả năng đo lượng tình trạng huyết động qua động mạch thai nhi. Nó không gây ra nguy cơ gì cho thai nhi. Siêu âm Doppler cũng giúp bác sỹ tránh được việc phải thực hiện thủ thuật chọc dò dịch ối. Theo một nghiên cứu vào năm 2006 của Oepkes, phương pháp này còn cho kết quả chính xác hơn chọc dò dịch ối trong việc xác định tình trạng thiếu máu. Tuy nhiên, phương pháp siêu âm Doppler không phổ biến ở tất cả mọi cơ sở y tế. Do vậy, những phụ nữ mang thai mang Rh (-) vẫn có thể thực hiện thủ thuật chọc dò ối với tần suất từ 10 ngày – 2 tuần/lần.

Nếu thai nhi có dấu hiệu thiếu máu nghiêm trọng, bác sỹ có thể chỉ định một phương pháp gọi là thử nghiệm di truyền trước sinh (cordocentesis). Trong xét nghiệm này, một mẫu máu thai nhi được lấy ra từ dây rốn và thử nghiệm cho các vấn đề di truyền hoặc nhiễm trùng.

Điều trị cho trẻ bị bất đồng yếu tố Rh

Nếu đã gần tới ngày sinh và các xét nghiệm cho thấy đứa trẻ bị thiếu máu, bác sỹ thường sẽ chỉ định người mẹ sinh sớm hơn để phòng khả năng các kháng thể của mẹ hủy hoại quá nhiều hồng cầu của thai nhi. Sau sinh, nếu trẻ xuất hiện triệu chứng vàng da, trẻ sẽ được điều trị bằng quang liệu pháp. Trong một số trường hợp, trẻ sẽ cần được truyền máu.

Khoảng 10% thai nhi với tình trạng bất đồng yếu tố Rh bị thiếu máu nặng, trước đây thường dễ dấn tới tử vong. Ngày nay, thai nhi có thể được điều trị ngay từ trong tử cung vào tuần 18 thai kỳ bằng cách truyền máu thông qua thử nghiệm di truyền trước sinh. Khoảng 90% trẻ được điều trị có thể sống khỏe mạnh bình thường. 

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Các kiểm tra sức khỏe cần thiết khi mang thai - Phần 1, Các kiểm tra sức khỏe cần thiết khi mang thai - Phần 2

Ths.Bs.Trần Thu Nguyệt - Viện Y học ứng dụng Việt Nam - Tổng hợp từ Marchofdimes
Bình luận
Tin mới
  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

  • 27/10/2026

    Ung thư vú: Ai dễ mắc và Cách tự khám tại nhà trong 5 phút

    Trong hành trình yêu thương bản thân, việc thấu hiểu cơ thể là bước đầu tiên để phái đẹp bảo vệ sức khỏe trọn vẹn. Ung thư vú là căn bệnh thường gặp do các tế bào tuyến vú phát triển ngoài tầm kiểm soát, nhưng hoàn toàn có thể chữa lành hiệu quả khi được phát hiện kịp thời, giúp việc điều trị trở nên nhẹ nhàng hơn rất nhiều. Nhằm đồng hành và tiếp thêm sự tự tin cho chị em, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những dấu hiệu nhận biết cùng các bước tự kiểm tra tại nhà đơn giản. Đây sẽ là giải pháp lắng nghe cơ thể hiệu quả, giúp phái đẹp luôn chủ động gìn giữ sức khỏe và an yên trong cuộc sống.

  • 26/10/2026

    Phòng ngừa cảm cúm mùa khi giao mùa

    Thời điểm giao mùa, khi nhiệt độ và độ ẩm không khí thay đổi liên tục, là giai đoạn virus cúm hoạt động mạnh nhất trong năm. Đây cũng là lúc số ca mắc cúm mùa tại các cơ sở y tế tăng cao, đặc biệt ở trẻ nhỏ, người cao tuổi và người có bệnh nền.

  • 26/10/2026

    Phòng ngừa các bệnh tim mạch mùa lạnh: Lời khuyên vàng cho trái tim khỏe

    Mùa đông không chỉ mang lại cảm giác se lạnh mà còn tiềm ẩn những nguy cơ đối với sức khỏe tim mạch. Nhiệt độ giảm thấp có thể làm tăng huyết áp, gia tăng nguy cơ các biến cố tim mạch như nhồi máu cơ tim hay đột quỵ. Bài viết này sẽ cung cấp những thông tin cần thiết về bệnh tim mạch, các dấu hiệu cảnh báo và những biện pháp phòng ngừa để giữ cho trái tim luôn khỏe mạnh.

  • 25/10/2026

    Ăn quả mọng mỗi ngày để thúc đẩy quá trình lão hóa lành mạnh

    Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!

Xem thêm