Tác dụng phụ thường gặp của corticoid dạng hít
Tuy nhiên, chúng ta cần biết là thuốc vẫn có các tác dụng phụ nhất định và luôn phải tuân thủ chặt chẽ theo các hướng dẫn khi dùng thuốc. Chúng tôi xin giới thiệu với bạn đọc bài viết về vấn đề này của BS. Nguyễn Hữu Trường, Trung tâm Dị ứng và Miễn dịch lâm sàng, bệnh viện Bạch Mai.
Trong số các thuốc điều trị hen phế quản, những dẫn xuất corticoid dạng hít như budesonide, fluticasone, beclomethasone, mometasone... có ít nguy cơ gây ra các phản ứng phụ hơn so với theophylline hoặc salbutamol. Mặc dù ít nhưng những nguy cơ này luôn rất được quan tâm do các thuốc này thường phải sử dụng kéo dài và liên tục.
Sử dụng liều corticoid hít thấp nhất đủ hiệu quả kiểm soát bệnh với mỗi bệnh nhân được cho là cách tốt nhất để giảm thiểu những nguy cơ tác dụng phụ của thuốc. Các tác dụng phụ của corticoid dạng hít thường gặp nhất liên quan đến mắt, sự phát triển chiều cao và xương khớp.
Tác dụng phụ trên mắt
Một số nghiên cứu dịch tễ học cho thấy, việc sử dụng các loại corticoid hít như budesonide, beclomethasone ở liều cao có thể làm tăng gấp 2 lần nguy cơ gây đục thủy tinh thể, mức nguy cơ có liên quan rõ rệt với cả liều dùng hiện tại và liều tích lũy liều theo thời gian dùng thuốc. Tuy nhiên, nguy cơ này được xác định là thấp hơn đáng kể so với các loại corticoid đường uống hoặc tiêm truyền và cũng thấp hơn nhiều so với lợi ích do thuốc đem lại trong việc kiểm soát bệnh hen. Bên cạnh đục thủy tinh thể, tăng nhãn áp cũng là một biến chứng ở mắt có liên quan đến việc dùng corticoid hít. Một số nghiên cứu bệnh chứng trên số lượng lớn bệnh nhân đã cho thấy, budesonide và fluticasone ở liều cao làm tăng nguy cơ tăng nhãn áp. Do đó, những người có yếu tố tăng nhãn áp gia đình nếu phải dùng corticoid hít liều cao nên được đo nhãn áp trước điều trị và định kỳ trong quá trình dùng thuốc để kịp thời phát hiện và xử trí tai biến này.
Thuốc dạng hít cũng có nhiều tác dụng phụ.
Ảnh hưởng đến sự phát triển chiều cao
Ảnh hưởng của việc dùng corticoid hít trên sự phát triển chiều cao của trẻ nhỏ hiện vẫn là một vấn đề còn nhiều tranh cãi do các nghiên cứu trên quy mô lớn về vấn đề này đã không cho những kết quả đồng nhất. Ảnh hưởng này được cho là có liên quan với liều dùng của thuốc và tính nhạy cảm cá thể. Một số nghiên cứu cũng cho thấy, những trẻ em bị giảm tốc độ phát triển khi dùng corticoid hít liều cao hoặc trung bình đều tăng tốc độ phát triển trở lại khi chuyển sang dùng liều thấp. Lợi ích của việc kiểm soát được hen trên sự phát triển chiều cao của trẻ có thể vượt qua nguy cơ của thuốc.
Tác dụng phụ trên xương
Loãng xương, gãy xương luôn là những biến chứng quan trọng liên quan đến việc dùng kéo dài các loại corticoid đường uống và tiêm truyền, điều này cũng làm tăng mối quan tâm về ảnh hưởng của corticoid hít đối với xương. Một số điều tra cắt ngang đã phát hiện tình trạng giảm khối lượng xương và mật độ xương ở những bệnh nhân hen dùng corticoid hít, tuy nhiên, rất khó để có thể khẳng định corticoid hít là nguyên nhân duy nhất gây ra tình trạng này. Hơn nữa, rất nhiều nghiên cứu khác lại không phát hiện thấy ảnh hưởng của việc dùng corticoid hít kéo dài đối với mật độ xương ở các bệnh nhân hen. Nói chung, nguy cơ loãng xương liên quan với corticoid hít tăng lên khi dùng liều cao hoặc qua những dạng dụng cụ hít có tỷ̉ lệ phân phối thuốc vào phổi lớn như bình hít bột khô (turbuhaler, accuhaler), bình xịt định liều gắn buồng đệm hoặc ở những đối tượng có nguy cơ loãng xương cao như mãn kinh, hạ canxi máu... Việc theo dõi mật độ xương và bổ sung canxi là cần thiết ở những người bệnh hen có các yếu tố nguy cơ loãng xương và phải dùng corticoid hít liều cao.
Tác dụng phụ tại chỗ
Ho kéo dài, khản giọng và nhiễm nấm Candida miệng - họng (tưa miệng) là những biến chứng tại chỗ thường gặp nhất với các loại corticoid hít. Dùng thuốc 4 lần mỗi ngày, dùng liều cao có nguy cơ gây tưa miệng cao hơn rõ rệt so với dùng 2 lần mỗi ngày, dùng liều trung bình và thấp. Các bình hít dạng bột khô cũng ít có nguy cơ gây nấm miệng - họng và khản giọng so với bình xịt định liều chuẩn, kể cả khi dùng liều cao do ít gây lắng đọng thuốc ở miệng - họng. Cần lưu ý là khản giọng thường không gây ra do nấm thanh quản, do đó, cũng không đáp ứng với việc điều trị các thuốc chống nấm.
Bên cạnh những tác dụng phụ thường gặp kể trên, việc dùng corticoid hít liều cao còn có thể liên quan với một số nguy cơ khác như teo da, suy tuyến thượng thận, ức chế miễn dịch, bầm tím trên da... Tuy nhiên, những nguy cơ này là rất nhỏ so với việc dùng các loại corticoid toàn thân cũng như rất nhỏ so với lợi ích điều trị của thuốc.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Hen phế quản ở trẻ em – Những điều cha mẹ cần biết
Trong đời sống hiện đại, các trạng thái căng thẳng tinh thần mức nhẹ như mệt mỏi, khó tập trung, áp lực công việc hay rối loạn giấc ngủ thoáng qua ngày càng phổ biến. Phần lớn các tình trạng này chưa đến mức bệnh lý, nhưng nếu kéo dài có thể ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng sống và hiệu suất lao động.
Thời tiết lạnh kèm ô nhiễm không khí gây ảnh hưởng không nhỏ tới phổi và hệ hô hấp. Bên cạnh tập luyện và dinh dưỡng nâng cao chức năng phổi, hãy tham khảo 7 loại thức uống dưới đây giúp hỗ trợ phổi khỏe mạnh tự nhiên.
Bạn bị nghẹt mũi, ho, và có thể cả đau họng. Có vẻ như đó là cảm lạnh thông thường. Nhưng sau vài ngày, các triệu chứng của bạn không thuyên giảm. Liệu cảm lạnh có thể biến thành viêm xoang không?
Trong kho tàng y học cổ truyền Việt Nam và khu vực Đông Nam Á, nhiều loài thảo mộc đã được sử dụng lâu đời như kim ngân hoa, cam thảo, cúc hoa… Tuy nhiên, bên cạnh các vị thuốc quen thuộc, vẫn tồn tại những thảo dược ít được chú ý, dù có giá trị sinh học đáng kể.
Hóa trị có thể giúp bạn chống lại ung thư , nhưng tác dụng phụ gần như chắc chắn. Bạn thường có một tâm trí mơ hồ, được gọi là " sương mù não do hóa trị ", trong và sau khi điều trị. Có thể bạn gặp khó khăn khi nhớ tên hoặc không thể làm nhiều việc cùng lúc tốt như trước đây.
Giấc ngủ đóng vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển thể chất và não bộ của trẻ nhỏ. Tuy nhiên, không ít phụ huynh tại nước ta đang đối mặt với tình trạng trẻ khó ngủ, ngủ không sâu giấc, hay thức giấc ban đêm – đặc biệt ở nhóm trẻ có biểu hiện tăng động, hiếu động quá mức.
Sốt xuất huyết nhẹ gây sốt cao và các triệu chứng giống cúm. Sốt xuất huyết nặng, còn gọi là sốt xuất huyết Dengue, có thể gây chảy máu nghiêm trọng, tụt huyết áp đột ngột (sốc) và tử vong.
Khoảng 30–50% tử vong do ung thư có thể được phòng tránh bằng việc điều chỉnh các yếu tố nguy cơ đã biết: không hút thuốc, duy trì cân nặng hợp lý, ăn uống lành mạnh (nhiều rau củ quả), vận động đều đặn, hạn chế rượu và tuân thủ các chương trình tầm soát phù hợp.