Những biến chứng nguy hiểm của sốt virus
Biểu hiện của bệnh
Khi cơ thể bị nhiễm virus, sau thời gian ủ bệnh virus sẽ nhân lên tới khi đủ cao để gây ra các triệu chứng của bệnh. Sốt virus có thể gặp ở mọi lứa tuổi và hầu hết không gây nguy hiểm và bệnh có thể tự hồi phục trong khoảng 7-10 ngày. Nhưng ở một số trường hợp có thể bị bội nhiễm nếu không được điều trị đúng cách và dứt điểm.
Biểu hiện của bệnh đa dạng, tùy thuộc vào nguyên nhân gây bệnh, nhưng biểu hiện ban đầu thường là ho. Sau đó bệnh nhân sẽ bị hắt hơi, sổ mũi, triệu chứng ngày càng nặng lên. Bệnh nhân sốt từ 39ºC tới ngoài 40ºC. Khi hạ sốt thì lại nhanh chóng sốt trở lại chỉ trong vài giờ. Trong một số trường hợp, khi hạ sốt bằng các thuốc hạ sốt thông thường cũng không có tác dụng, kèm theo các dấu hiệu đau đầu dữ dội, đau nhức toàn thân, cơ thể cảm thấy mệt mỏi, nặng nề... Biểu hiện này rõ nhất là ở người lớn.
Ở trẻ em, có thể bị đau đầu nhưng vẫn tỉnh táo (trẻ nhỏ hơn chưa biết kêu đau có thể sẽ quấy khóc). Ở đường hô hấp, bệnh nhân có thể bị viêm họng, họng đỏ, có thể sưng tấy, ho, chảy nước mũi, hắt hơi liên tục. Bệnh nhân có thể thấy buồn nôn, nôn sau ăn hoặc nôn khan, luôn cảm thấy khát nước, muốn uống nước liên tục kèm theo miệng đắng, chán ăn và rối loạn tiêu hóa.

Một trong những biểu hiện khác của sốt virus nữa là viêm hạch (xuất hiện khi bị bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp, xuất hiện các hạch vùng đầu, cổ, có thể nhìn hoặc sờ thấy được). Ngoài ra, triệu chứng phát ban có thể xuất hiện từ 2 hoặc 3 ngày sau khi sốt. Lúc này, trên bề mặt da, đặc biệt là những chỗ da mỏng nổi những nốt ban đỏ nhỏ li ti. Một số bệnh nhân còn bị viêm kết mạc mắt, làm mắt đỏ, chảy nước, người mệt mỏi, uể oải...
Những biến chứng thường gặp khi bị sốt virus
Khi bị sốt virus, nếu không được chăm sóc và điều trị kịp thời, bệnh có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như:
Viêm phổi: Đây là biến chứng nặng thường gặp, có thể bùng phát thành dịch với diễn biến phức tạp và nguy hiểm.
Viêm tiểu phế quản: Biến chứng này hay gặp ở trẻ dưới 1 tuổi, đây cũng là biến chứng rất nặng, nguy hiểm đối với trẻ nếu không được xử trí kịp thời.
Viêm thanh quản: Khi thanh quản bị sưng phù có thể dẫn tới bị khó thở, thở rít, cơ thể thiếu ô-xy.
Viêm cơ tim, gây loạn nhịp tim, ngừng tim: Sau khi hết sốt mà bệnh nhân vẫn mệt mỏi, lịm đi. Ở trẻ nhỏ không chơi nghịch, không ăn được thì cha mẹ cần cẩn thận đưa con đi khám bệnh ngay.

Viêm cơ tim là biến chứng nguy hiểm có thể xảy ra do sốt virus.
Một biến chứng đáng ngại nhất của sốt virus là bệnh có thể gây ra những biến chứng ở não, trẻ bị co giật, hôn mê và có thể mang di chứng nặng nề.
Cần làm gì khi bị sốt virus?
Hiện nay chưa có thuốc đặc trị sốt virus. Phần lớn bệnh có thể tự khỏi sau 7-10 ngày. Tuy nhiên cần nhanh chóng có biện pháp điều trị kịp thời khi phát hiện triệu chứng của sốt siêu vi, tránh để bệnh chuyển biến phức tạp và gây ra những biến chứng nguy hiểm như vừa nêu trên.
Điều đầu tiên cần làm khi bị sốt đó là uống nhiều nước. Ở trẻ còn bú mẹ thì phải cho trẻ bú đầy đủ. Dung dịch bù nước thường dùng là oresol hoặc có thể thay thế oresol bằng viên hydrit. Cần chú ý pha thuốc đúng tỷ lệ được hướng dẫn vì nếu pha quá loãng sẽ không cung cấp đủ lượng chất điện giải cần thiết, nếu quá đặc sẽ dẫn đến tình trạng quá tải các chất điện giải. Tùy theo tình trạng mất nước mà bổ sung lượng nước điện giải đầy đủ.
Sử dụng thuốc hạ sốt khi sốt trên 38,5ºC. Thuốc thường dùng là paracetamol, cách mỗi 4 - 6 giờ dùng một lần. Liều lượng dùng theo khuyến cáo trong tờ hướng dẫn sử dụng thuốc hoặc theo chỉ định của bác sĩ.
Nên ở trong phòng ấm, mặc đồ thoáng mát, không để gió lùa, không để nhiệt độ phòng quá thấp hơn so với nhiệt độ cơ thể. Khi sốt cao và đã dùng thuốc hạ sốt nhưng không đạt được mức hạ sốt cần thiết (hoặc cơn sốt nhanh chóng trở lại), có thể lau người bằng nước ấm (nhiệt độ của nước thấp hơn nhiệt độ của cơ thể khoảng 3 - 4ºC). Chú ý không được dùng đá lạnh để chườm.
Khi bị sốt virus, sức đề kháng của cơ thể suy giảm nên rất dễ bị bội nhiễm các bệnh khác. Vì vậy việc vệ sinh là vô cùng cần thiết, giúp người bệnh tránh được hiện tượng bội nhiễm do nhiễm các loại virus hoặc vi khuẩn khác. Bệnh nhân không nhất thiết phải kiêng nước mà có thể tắm bằng nước ấm, lau khô người sau khi tắm và thay quần áo thật sạch sẽ. Nhỏ mắt, mũi bằng nước muối sinh lý (natriclorid 0,9%), tránh bội nhiễm vi khuẩn đường hô hấp.

Sốt virus có thể gây phát ban sau 2-3 ngày.
Khi bị sốt chưa rõ nguyên nhân, tuyệt đối không tự dùng kháng sinh hay tự đi truyền dịch, cũng như lạm dụng dụng cụ xông họng. Đặc biệt không nên uống liên tục thuốc hạ sốt. Nếu sốt trên 5 ngày không đỡ hoặc sốt cao trên 39ºC mà dùng thuốc hạ sốt không thấy hạ hoặc xuất hiện co giật, đau đầu liên tục, buồn nôn thì cần nhanh chóng đưa người bệnh đến các phòng khám, bệnh viện gần nhất để có biện pháp điều trị đúng đắn, giúp bệnh nhanh chóng thuyên giảm, tránh những biến chứng có thể xảy ra.
Sau khi hạ sốt cần ăn uống đầy đủ để đảm bảo dinh dưỡng cho cơ thể. Nên cho người bệnh ăn thức ăn lỏng, dễ tiêu, giàu chất dinh dưỡng để nhanh hồi phục sức khỏe. Uống thêm sữa, nước cam, hoa quả, vitamin để nâng cao sức đề kháng cho cơ thể.
Thông thường, sốt virus là bệnh dễ lây, virus có thể lây từ người này sang người khác, đặc biệt là nhiễm qua đường hô hấp, tiêu hóa. Vì thế, nếu có triệu chứng sốt do virus, người bệnh nên hạn chế tiếp xúc với người khác để tránh lây cho người thân trong gia đình và mọi người xung quanh. Đặc biệt, không dùng chung chén, thìa, đĩa với một người khỏe mạnh. Cần cách ly và không nên đến nơi công cộng hoặc nơi làm việc.
Người lớn bị sốt virus thường kéo dài và nặng nề hơn ở trẻ em. Vì khi ốm, người lớn thường chủ quan hơn trong điều trị và chăm sóc, nghĩ rằng đó chỉ là cảm sốt bình thường nên nhiều người vẫn đi làm. Chế độ ăn uống lại thất thường sẽ làm cơ thể dễ bị suy sụp nhanh.
Để phòng tránh sốt virus, cần tăng cường sức đề kháng cho cơ thể bằng cách ăn uống đầy đủ chất dinh dưỡng, trong đó, lưu ý, bổ sung các vitamin từ hoa quả, có chế độ lao động và nghỉ ngơi hợp lý. Chú ý vệ sinh cá nhân, môi trường nơi ở và xung quanh sạch sẽ.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Sốt virus ở trẻ em
Một nghiên cứu công bố trên tạp chí PLOS Medicine cho thấy việc theo dõi sự thay đổi của các chỉ số xét nghiệm máu theo thời gian có thể giúp nhận diện nguy cơ ung thư sớm hơn so với việc chỉ đánh giá kết quả của một lần xét nghiệm.
Đột quỵ là biến cố cấp tính nguy hiểm xảy ra khi dòng máu nuôi não bị tắc nghẽn hoặc bị gián đoạn, khiến tế bào não bị hoại tử nhanh chóng. Nếu không được cấp cứu trong "thời gian vàng", bệnh có thể gây tử vong hoặc để lại di chứng nặng nề như liệt, rối loạn ngôn ngữ. Hiện nay, căn bệnh này đang có xu hướng trẻ hóa, đặc biệt là ở nam giới. Nhằm giúp cộng đồng chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cốt lõi giúp nhận diện nguyên nhân và phòng ngừa đột quỵ hiệu quả.
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!