Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng

Trẻ non tháng là trẻ được sinh ra trước 37 tuần tuổi thai. Có khoảng12% tổng số trẻ được sinh ra là non tháng. Trẻ < 28 tuần là cực non tháng; từ 28 - < 34 tuần là non tháng; trẻ từ 34 - < 37 tuần là trẻ non muộn.

Đặc điểm trẻ sơ sinh non tháng

- Cơ quan sinh dục chưa phát triển; Dễ bị lạnh; Dễ tổn thương: Dễ nhiễm trùng và nhiều vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, kéo dài khác:

Hô hấp: Suy hô hấp (thở yếu); Ngưng thở; Phổi chưa phát triển; Bệnh phổi mạn.

- Tim mạch: Còn ống động mạch; Chậm nhịp tim; Huyết áp không ổn định.

- Tiêu hóa: Chưa bú được; Ăn khó khăn, khó tiêu; Viêm ruột hoại tử.

- Thận: chưa trưởng thành.

- Máu, chuyển hóa: Dễ thiếu máu nên thường cần truyền máu; Vàng da.

- Thần kinh: Xuất huyết não; Bệnh lý não non tháng; Co giật.

- Mắt: Bệnh lý võng mạc trẻ sanh non (ROP).

cham-soc-tre-so-sinh-non-thang-1

Chăm sóc trẻ sơ sinh non tháng?

Tùy tuổi thai, cân nặng, bệnh lý mà trẻ có thể cần những phương tiện hỗ trợ và quá trình chăm sóc khác nhau - lồng ấp, giường sưởi.

- Dụng cụ theo dõi nhịp tim, oxy máu.

- Dụng cụ hỗ trợ hô hấp (oxy, NCPAP, máy thở).

- Đường truyền tĩnh mạch: truyền dịch, thuốc.

- Đặt ống thông dạ dày.

- Sữa mẹ.

- Kháng sinh, thuốc.

- Chăm sóc kangaroo (da kề da).

- Thường cần chụp X-quang, xét nghiệm máu.

- Trẻ cần thời gian để bắt kịp tăng trưởng, phát triển.

- Thời gian nằm viện thường kéo dài, tùy tình trạng của bé.

Khi nào trẻ non tháng được về nhà?

- Bệnh lý hay các vấn đề nghiêm trọng đã được giải quyết.

- Thân nhiệt ổn định, có thể ngủ trong nôi bình thường không cần lồng ấp.

- Tự bú đủ.

- Không còn ngưng thở hay giảm nhịp tim.

- Bố mẹ có thể chăm sóc trẻ.

Hội chứng suy hô hấp trẻ sơ sinh (bệnh màng trong)

Đây là bệnh xảy ra khi phổi trẻ chưa phát triển đầy đủ hoặc do vấn đề về gien (bẩm sinh) làm cho phổi trẻ thiếu một chất hoạt diện gọi là surfactant, chất này giúp phổi trẻ nở tốt và đồng đều sau sinh. Bệnh này khiến cho trẻ khó thở, thường xảy ra trên trẻ non tháng, trẻ càng non tháng nguy cơ bị bệnh càng cao.

Trẻ nào có nguy cơ bị bệnh?

Trẻ non tháng, cân nặng lúc sinh thấp.

Sinh mổ.

Mẹ mắc đái tháo đường…

Biểu hiện của bệnh

Thường có biểu hiện sớm sau sinh và ngày càng nặng hơn. Trẻ có thể tím, thở nhanh, thở rút lõm ngực, cánh mũi phập phồng, nghe tiếng rên khi trẻ thở.

Chẩn đoán

- Bé cần được bác sĩ thăm khám. Làm những xét nghiệm máu để loại trừ nhiễm trùng, kiểm tra mức oxy máu… Chụp X-quang phổi.

Điều trị sẽ như thế nào?

Mục tiêu chính là giúp trẻ thở tốt.

Trước sinh:

- Nếu trẻ có nguy cơ sinh non, mẹ có thể được chích steroids trước sinh (còn gọi là chích thuốc trưởng thành phổi). Thuốc steroids kích thích phổi trẻ trưởng thành.

Sau sinh:

- Bé sẽ được chuyển đến phòng hay khoa hồi sức tích cực.

- Được hỗ trợ hô hấp với oxy, NCPAP (dụng cụ hỗ trợ áp lực và oxy qua một hệ thống gắn vào mũi trẻ), hoặc nặng hơn trẻ có thể phải thở máy.

- Trẻ có thể cần được bơm chất surfactant nhân tạo vào phổi để bù lượng bị thiếu.

- Ngoài ra trẻ còn cần được điều trị những vấn đề kết hợp khác như non tháng, nhiễm trùng…

- Trẻ có thể cần được nằm viện trong nhiều ngày tới nhiều tháng tùy thuôc vào độ nặng của bệnh.

Tiên lượng của bị bệnh màng trong như thế nào?

Trẻ có thể gặp nhiều biến chứng khác nhau do vấn đề bệnh hay do biến chứng điều trị. Trẻ cần được theo dõi tái khám sau xuất viện, khám mắt, khám thính lực, cũng như sự phát triển tâm vận.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Thai nghén nguy cơ cao

ThS.BS. NGUYỄN TỐ NA - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm