Cảm lạnh và cảm cúm ở trẻ em khác nhau thế nào?
Tất nhiên để phân biệt rạch ròi trên một em bé có biểu hiện bệnh cúm hay cảm lạnh là không hề dễ dàng. Bởi vì hai bệnh khác nhau về nguyên nhân và mức độ nặng - nhẹ, nhưng lại khá giống nhau về triệu chứng. Ở đây chỉ đề cập tới cúm mùa chứ không đề cập tới cúm gia cầm hay cúm gia súc lây từ động vật sang người.
Cúm và cảm lạnh do nguyên nhân hoàn toàn khác nhau

Cúm (tiếng anh là Influenza hay Flu, cúm mùa: Seasonal influenza) là một bệnh truyền nhiễm cấp tính lây truyền qua đường hô hấp, gây ra bởi virus cúm. Thường do hai chủng virus cúm A, B gây ra.
Cảm lạnh (hay còn gọi là cảm lạnh thông thường) là một nhóm các triệu chứng gây ra bởi nhiều loại virus khác nhau, trong đó Rhinovirus chiếm phần lớn, riêng virus này lại có tới hơn 100 chủng khác khác nhau. Các loại virus khác cũng gây cảm lạnh có thể kể đến là: Enterovirus, Coronavirus... Do vậy trẻ có thể bị cảm lạnh nhiều đợt trong một năm. Ước tính một trẻ dưới 6 tuổi khỏe mạnh một năm có thể bị cảm lạnh 6- 8 lần.
Cúm và cảm lạnh lây truyền như thế nào?
Cả cúm mùa và cảm lạnh đều là những bệnh truyền nhiễm lây từ người này sang người khác qua đường hô hấp một cách trực tiếp qua dịch tiết ở đường hô hấp thông qua các động tác ho, hắt hơi, nói chuyện, đụng chạm, nhất là khi bàn tay trẻ dính chất tiết có virus của người bệnh sau đó trẻ đưa lên miệng, mũi, mắt... Cũng có thể do hít phải giọt tiết (nước bọt, nước mũi) của người bệnh có chứa virus lơ lửng ngoài môi trường, hay gián tiếp đụng chạm vào các bề mặt (bàn, đồ chơi…) có dính dịch tiết của người bệnh sau đó trẻ đưa tay lên mũi, miệng, mắt của mình. Cảm lạnh và cúm mùa có thể xảy ra quanh năm, nhưng thường gặp hơp cả là vào mùa khô lạnh như mùa đông hay cuối đông đầu xuân.
Cảm lạnh và cúm mùa có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, nhưng hay gặp nhất là các trẻ học mẫu giáo, tiểu học, trẻ sống nơi đông người. Với cảm lạnh thông thường thì lứa tuổi trẻ hơn, sơ sinh và nhũ nhi cũng thường xuyên bị.
Biểu hiện của cảm lạnh và cúm mùa
Triệu chứng của cảm lạnh và cúm mùa khá giống nhau, sau khi nhiễm phải virus 24 - 48 giờ sau thường biểu hiện các triệu chứng sau:
Sốt: đa số trẻ bị cảm lạnh hoặc cúm mùa thì đều có sốt. Cúm mùa thì thường sốt cao đột ngột, có thể trên 38.5- 39 độ C. Cảm lạnh thông thường thì sốt nhẹ hơn, tuy nhiên cũng có trẻ sốt cao hoặc là không sốt.
Hội chứng viêm long đường hô hấp trên, bao gồm: ho, khởi đầu là ho khan, sau 1-3 ngày có thể ho có đờm. Nghẹt mũi, ở trẻ lớn thì đã biết kêu ngạt mũi, nói giọng mũi, há miệng thở, ngủ ngáy. Trẻ nhỏ thì quấy khóc, lăn lộn khó ngủ, đang bú thì buông ra để thở hổn hển đó là dấu hiệu của tắc mũi. Với trẻ nhỏ, phụ huynh có thể ghé tai sát mũi nghe tiếng thở, khi bị ngạt mũi tiếng khụt khịt rất lớn. Tiếng khụt khịt khi trẻ nghẹt mũi phụ huynh hay nhầm với tiếng khò khè trong bệnh viêm tiểu phế quản, suyễn hay viêm phổi.
Sổ mũi: dịch xuất tiết lúc đầu trong, loãng nhưng nếu không được vệ sinh sạch sẽ để ứ đọng nhiều hoặc bị bội nhiễm vi khuẩn thì dịch có thể trở nên đục, xanh hoặc vàng.

Nhày mũi: trẻ có thể bị hắt hơi trước đó như là một báo hiệu của bệnh.
Hội chứng đau: đau là một dấu hiệu khá nổi bật của cúm, giúp phân biệt với cảm lạnh thông thường. Trẻ bị cúm thường bị đau đầu, đau cơ bắp, đau nhức khắp mình mẩy. Trẻ nhỏ chưa biết nói chuyện thường chỉ thể hiện ra là quấy khóc, kích thích nhiều.
Các triệu chứng khác: Trẻ biếng ăn do thay đổi khẩu vị, do nghẹt mũi nên khó khăn trong ăn uống, trẻ bị cúm thường sợ mùi thức ăn, buồn nôn, nôn.
Trẻ lớn đã biết kêu đau rát cổ họng, cảm giác khô, nuốt đau, nổi hạch vùng cổ. Trẻ nhỏ thì quấy khóc, bứt rứt, khó ngủ. Ngoài ra, trẻ có thể gặp chóng mặt, buồn nôn, nôn, tiêu phân lỏng đôi khi gặp.
Các dấu hiệu viêm kết mạc, sưng phù mí mắt, đỏ mắt, có gỉ mắt… là dấu hiệu có thể gặp trong cảm lạnh thông thường.
Phát ban cũng có thể gặp trong một số trường hợp, nếu có thường xuất hiện sau sốt 2-3 ngày.
Các xét nghiệm cận lâm sàng khi trẻ có biểu hiện cảm lạnh, cúm
Trong đa số các trường hợp việc chẩn đoán bệnh là khá dễ dàng với bác sĩ mà không cần bất cứ xét nghiệm gì. Xét nghiệm thường được chỉ định khi bác sĩ còn phân vân, nghi ngờ với một bệnh lý nguy hiểm khác. Trong những trường hợp sốt cao, các triệu chứng nghèo nàn thì xét nghiệm công thức máu và test nhanh sốt xuất huyết có thể giúp bác sĩ phân biệt được trẻ có bị sốt xuất huyết hay không. Công thức máu cũng có thể gợi ý các triệu chứng của viêm đường hô hấp gây ra là do virus hay vi khuẩn.
Chỉ chụp Xquang xoang hay phổi khi nghi ngờ có biến chứng viêm phổi, viêm xoang. Biện pháp phân lập virus trong dịch tiết hô hấp để phân biệt virus cúm hay virus khác thì gây tốn kém và không cần thiết.
Điều trị cảm lạnh và cúm mùa
Đây là bệnh do virus gây ra nên không có thuốc điều trị đặc hiệu, chỉ điều trị triệu chứng, nâng cao thể lực, sức đề kháng và chờ bệnh tự khỏi. Cần điều trị biến chứng nếu không may có biến chứng xảy ra.
Cung cấp nước cho trẻ: thông qua nước uống trực tiếp, sữa, đồ ăn lỏng như cháo, soup.
Hạ sốt: paracetamol, ibuprofen (phải được bác sĩ cho phép), không được dùng aspirin để hạ sốt cho trẻ.
Vệ sinh mũi: rửa mũi bằng dung dịch nước muối sinh lý (0.9 %), hoặc xịt vệ sinh mũi bằng nước muối biển sâu, có thể lấy mũi cho trẻ bằng khăn giấy sạch cuốn bấc sâu kèn.
Giảm ho: có thể dùng siro ho thảo dược hoặc một số bài thuốc dân gian: tắc chưng đường phèn, mật ong, chanh đào ngâm mật ong, mát-xa gan bàn chân bằng dầu nóng...
Không cần dùng kháng sinh nếu không có bội nhiễm
Các thuốc kháng virus trong giai đoạn sớm: chưa có khuyến cáo.
Biến chứng của cảm lạnh thông thường và cúm mùa
Mặc dù bệnh khá lành tính và đa số tự khỏi trong vòng 1 tuần, nhưng 1 số trẻ có thể có các biến chứng như: viêm tai giữa cấp, viêm xoang cấp, viêm tiểu phế quản cấp (với trẻ dưới 2 tuổi), kích phát cơn hen đối với trẻ có bệnh hen, viêm phổi, khởi phát các bệnh lí miễn dịch, bội nhiễm vi khuẩn.
Bệnh cúm mùa có thể có những biến chứng nặng: viêm hệ thần kinh trung ương, viêm cơ, viêm cơ tim...
Khi nào cần liên hệ với bác sĩ nhi khoa?
Trẻ dưới 3 tháng nếu có bất kì triệu chứng nào của bệnh bao gồm: sốt, ho, quấy khóc, bú kém....
Trẻ trên 3 tháng thì đưa trẻ tới gặp bác si nhi khoa khi có một trong các biểu hiện sau: tiểu ít hơn bình thường, sốt từ 39 độ C trở lên, sốt quá 3 ngày, đau tai: quấy khóc, lấy tay đập hay vò tai, cọ tai xuống nệm, người lớn đụng vào tai là khóc, chảy dịch tai, mắt màu đỏ hoặc màu vàng, đổ ghèn mắt, có ho hơn một tuần, nước mũi đặc, xanh lá cây trong hơn hai tuần dù có vệ sinh, thở nhanh, thở mệt, khò khè, cảm thấy quá lo lắng.
Nhập viện gấp hoặc gọi xe cấp cứu 115 khi trẻ có bất kì một trong các dấu hiệu sau: li bì khó khó đánh thức, co giật, không uống được hoặc bỏ bú, nôn tất cả mọi thứ, có dấu hiệu tím tái, tiếng thở rít khi nằm yên .
Phòng bệnh như thế nào?
Để phòng bệnh chung cho cả cảm lạnh thông thường và cúm mùa thì trước tiên cần phải nâng cao sức để kháng bằng dinh dưỡng, cho trẻ uống đủ nước bao gồm: sữa, nước lọc, nước trái cây, cháo, soup. Ngoài ra thì giữ vệ sinh cũng là một yếu tố rất quan trọng trong việc phòng bệnh. Do vậy, người giữ trẻ cần rửa tay cho mình khi chăm sóc trẻ, rửa tay cho trẻ sạch sẽ. Đây là biện pháp hữu hiệu nhất để ngừa bệnh. Cần rửa tay thường xuyên bằng xà bông, đặc biệt trước khi ăn. Thường xuyên cọ rửa sàn nhà, đồ chơi, vệ sinh núm vú giả. giáo dục trẻ không ngậm tay hay mút đồ chơi. Tránh không tiếp xúc với người có biểu hiện bệnh: sốt, ho, sổ mũi... Trong mùa dịch bệnh, nên hạn chế cho trẻ tới nơi đông người. Đối với người lớn, khi ở nơi đông người về thì cần vệ sinh sạch sẽ, thay quần áo trước khi tiếp xúc với trẻ.
Đối với trẻ sơ sinh (28 ngày đầu đời): hạn chế tiếp xúc với nhiều người, tuyệt đối không tiếp xúc với nguời có biểu hiện bệnh.
Cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu sẽ làm tăng khả năng đề kháng cho trẻ chống lại bệnh tật.
Giáo dục trẻ và người lớn ý thức ho khạc: ho khạc vào khăn giấy sau đó bỏ vào thùng rác.
Tiêm ngừa vaccin cúm mùa: tiêm cho trẻ sau 6 tháng tuổi. trẻ dưới 9 tuổi tiêm 2 liều cách nhau tối thiểu 4 tuần. trẻ từ 9 tuổi trở lên: tiêm 1 liều. Tiêm nhắc lại mỗi năm, vì virus cúm thay đổi kháng khuyên hàng năm. Nên tiêm đón đầu trước mùa bệnh 1-2 tháng.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Kỹ thuật súc rửa mũi khi bị cảm lạnh và dị ứng
Ngũ cốc nguyên hạt từ lâu đã được khuyến cáo trong chế độ ăn có lợi cho tim mạch.
Các thực phẩm chức năng từ nghệ, đặc biệt là những loại có thêm tiêu đen, có thể gây hại cho gan, với số ca tổn thương gan do nghệ gây ra ngày càng tăng trong những năm gần đây.
Một số thực phẩm chức năng có thể cải thiện sức bền hoặc hiệu suất thể thao. Tuy nhiên, một số loại thực phẩm chức năng có thể hứa hẹn kết quả quá mức hoặc đi kèm với rủi ro.
U dây thần kinh thính giác là một loại u thần kinh ngoại biên hiếm gặp, u này thường lành tính nhưng có thể gây ra mất thính lực, ù tai và các vấn đề về thăng bằng. Cùng tìm hiểu về nguyên nhân, triệu chứng của bệnh u dây thần kinh thính giác qua bài viết sau đây!
Khi thời tiết chuyển lạnh và nhiệt độ giảm sâu, nguy cơ đột quỵ ở người cao tuổi tăng cao đáng kể, trở thành mối lo ngại hàng đầu của nhiều gia đình. Tình trạng này không chỉ đe dọa trực tiếp đến tính mạng mà còn dễ để lại những di chứng nặng nề nếu không được xử trí kịp thời. Nhằm giúp mọi người chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam chia sẻ những thông tin khoa học về nguyên nhân, dấu hiệu nhận biết sớm và các biện pháp phòng ngừa đột quỵ hiệu quả trong mùa đông.
Hiến tặng tế bào gốc tủy xương đòi hỏi phải đồng ý cho phép lấy tế bào gốc từ máu hoặc tủy xương của bạn để truyền cho người khác. Quá trình này được gọi là cấy ghép tế bào gốc, cấy ghép tủy xương hoặc cấy ghép tế bào gốc tạo máu. Cùng tìm hiểu về quy trình và những nguy cơ bạn có thể gặp phải khi hiến tế bào gốc qua bài viết sau!
Mùa đông tới mang theo không khí khô lạnh khiến làn da vốn mỏng manh của trẻ nhỏ phải đối mặt với nhiều vấn đề sức khỏe. Hiện tượng nẻ gót, bong tróc hay cước tay chân ở trẻ nhỏ là nỗi trăn trở hàng đầu của nhiều bậc phụ huynh. Những vết bong nẻ không chỉ làm bé đau rát, ngứa ngáy mà còn ảnh hưởng trực tiếp đến sinh hoạt, giấc ngủ và sự phát triển toàn diện của trẻ. Việc nhận biết rõ nguyên nhân, dấu hiệu và nắm chắc quy trình chăm sóc da chuẩn khoa học sẽ giúp cha mẹ chủ động bảo vệ toàn diện cho bé trong những ngày giá rét.
Mọi người thường tránh ăn đậu vì chúng được biết là gây đầy hơi và chướng bụng. Điều này xảy ra vì đậu chứa một loại đường phức tạp gọi là galacto-oligosaccharide (GOS), một dạng carbohydrate mà các enzyme tiêu hóa của con người không thể phân giải hoàn toàn. Thay vào đó, GOS được vi khuẩn trong ruột già lên men, và sinh ra sản phẩm phụ là khí, gây đầy hơi. Mặc dù không có loại thực phẩm nào có thể ngăn ngừa hoàn toàn tình trạng đầy hơi do đậu gây ra, nhưng việc kết hợp đậu với một số loại thực phẩm cụ thể có thể cải thiện tiêu hóa.