Mất 10 năm để khởi phát
PGS.TS Phạm Duy Hiển, nguyên Phó giám đốc Bệnh viện K Trung ương cho biết, dựa vào kích thước khối u, mức độ di căn hạch nách, tình trạng di căn xa hay gần, người ta chia ung thư vú làm 5 giai đoạn: 0, I, II, III và IV.
Giai đoạn 0 là ung thư tại chỗ, chưa có di căn hạch. Giai đoạn càng cao khi u càng to hoặc di căn hạch càng nhiều. Giai đoạn IV là giai đoạn cuối bất kể u to hay nhỏ, hạch di căn nhiều hay ít nhưng đã có di căn xa vào xương, phổi, gan, não... vì thế bệnh nhân cần được làm các xét nghiệm để đánh giá tình trạng toàn thân, gan phổi, não, xương, thận...
Trong đó ung thư vú có thời kỳ "tiền lâm sàng" kéo dài tới 8-10 năm. Đây là thời gian để một tế bào ung thư vú đầu tiên trở thành một khối u có đường kính 1cm (tương đương 1 tỉ tế bào) để có thể sờ thấy. Thời kỳ này thường phải "khám sàng lọc" mới phát hiện được.
Từ 1cm thành khối u có đường kính 2cm cần 4 tháng. Giai đoạn này có thể phát hiện bằng sờ nắn, khám tuyến vú đúng cách.
Từ khối u có đường kính 2cm phát triển thành 4cm cần thời gian ngắn hơn tùy thuộc có bao nhiêu % tế bào ung thư tham gia vào quá trình phân chia (tế bào ung thư nhân đôi theo theo hàm số mũ).
Khi hình thành khối u to ở xung quanh núm vú sẽ kéo tụt núm vú. Khối u xâm lấn ra ngoài da dính vào da làm da thay đổi màu da hoặc hình "sần da cam".
"Ung thư vú thể viêm gây tình trạng sưng, nóng, đỏ, đau một vùng hay toàn bộ tuyến vú. Khi đó tiên lượng đã rất nặng, có thể tử vong trong một vài tháng nếu không được điều trị đúng phương pháp", PGS Hiển chia sẻ.
Ngoài ra rất có thể phát hiện tình trạng chảy dịch núm vú đặc biệt dịch màu hồng hoặc dịch máu. Trong một số trường hợp xuất hiện hạch nách, nhiều trường hợp u nhỏ nhưng hạch nách to gây chèn ép thần kinh, gây đau dọc mặt trong cánh tay lan xuống ngón tay. Có trường hợp sờ thấy hạch dọc mặt trong cánh tay.
Những trường hợp đến muộn khi khối u to xâm lấn da gây vỡ, chảy dịch, máu ra ngoài hoặc di căn xương (gây đau xương vùng di căn), di căn phổi (ho máu, tức ngực)...
Điều trị ung thư vú
PGS.TS Nguyễn Văn Thuấn, Phó giám đốc Bệnh viện K khẳng định: “Ung thư vú hoàn toàn có thể chữa khỏi. Trong đó việc tầm soát và phát hiện sớm ung thư vú có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Càng sớm việc điều trị càng đơn giản, hiệu quả điều trị càng cao, chi phí điều trị càng ít. Đáng tiếc, hầu hết trường hợp ung thư vú đều đã ở giai đoạn muộn mới nhập viện".
Theo PGS Thuấn, nếu được phát hiện ở giai đoạn đầu có thể chữa khỏi bệnh tới hơn 80%, ở giai đoạn 2 tỷ lệ này là 60%, sang giai đoạn 3 khả năng khỏi hẳn thấp và đến giai đoạn 4 thì thường việc điều trị chỉ để kéo dài cuộc sống, giảm bớt các triệu chứng đau đớn.
Ở giai đoạn đầu, PGS Thuấn cho biết đến nay nhiều bệnh nhân vẫn sống tốt 15-20 năm, có người còn lâu hơn nữa.
PGS Hiển cho biết, hiện nay điều trị ung thư vú có thể dựa vào phẫu thuật, xạ trị, thuốc (hoá chất, nội tiết, sinh học). Việc áp dụng 1 hay nhiều phương pháp tuỳ thuộc vào từng giai đoạn và từng trường hợp cụ thể.
+ Phương pháp phẫu thuật: Ở giai đoạn sớm, các nước có thể phẫu thuật cắt 1/4 bảo tồn tuyến vú phối hợp xạ trị tại chỗ, còn ở Việt Nam, tỉ lệ bảo tồn mới chỉ đạt khoảng 10% vì hầu hết khối u to do bệnh nhân nhập viện muộn.
Việc phẫu thuật bảo tồn tuyến vú hiện áp dụng chủ yếu với khối u trên dưới 3cm và không sờ thấy hạch nách.
Một số trường hợp khi bệnh nhân đến viện quá muộn, khối u xâm lấn da gây vỡ, chảy máu, mủ hôi thối hoặc u quá to gây đau đớn mà lại có di căn xa (giai đoạn IV) thì phẫu thuật sạch sẽ chỉ góp phần cải thiện phần nào chất lượng cuộc sống cho người bệnh.
+ Xạ trị và hóa trị: Giai đoạn 0 là giai đoạn duy nhất không cần hoá chất cũng như xạ trị trước và sau mổ.
Tất cả những bệnh nhân mổ lấy u hoặc cắt 1/4 bảo tồn tuyến vú bắt buộc phải điều trị xạ bổ trợ sau mổ.
Khi đã có hạch di căn thì hoá trị là bắt buộc không phụ thuộc vào kích thước khối u.
Nếu u to 4-5cm mà không sờ thấy hạch nách cần bổ trợ hoá chất trước mổ để có thể mổ bảo tồn tuyến vú. Giai đoạn III và IV hoá trị là bắt buộc có thể cả trước và sau mổ.
+ Phương pháp sinh học: Đây là phương pháp thu được những kết quả đáng khích lệ nhất. Những bệnh nhân ung thư vú thể ống xâm nhập trước tuổi mãn kinh có tình trạng thụ thể nội tiết ER và/ hoặc PR (+) nếu hạch nách chưa có di căn, HER-2/Neu (-) sau khi mổ tại chỗ và xạ trị, điều trị nội tiết bằng cắt buồng nội hoặc ngoại khoa rồi dùng nội tiết bậc một hay bậc hai.
Nếu HER-2/Neu (+) phối hợp nội tiết như trên với kháng thể đơn dòng, điều trị trúng đích bằng Trastuzumab (Herceptin).
Nếu cả 3 ER, PR và HER-2/Neu (-) thì phải điều trị hoá chất bổ trợ. Nội tiết và kháng thể đơn dòng được chỉ định khi ER và/ hoặc PR và HER-2/Neu (+).
Nếu đã mãn kinh điều trị nội tiết vẫn cần thiết chỉ khác không phải cắt buồng trứng.
Khoai lang là thực phẩm phổ biến trong nhiều thực đơn ăn kiêng giảm cân. Tuy nhiên, không phải cứ ăn thay cơm là sẽ gầy. Việc ăn sai liều lượng hoặc sai thời điểm có thể khiến nỗ lực giảm cân thất bại.
Nhiều người tin rằng việc làm sạch đại tràng giúp cơ thể "tống khứ" độc tố và cải thiện sức khỏe toàn diện. Tuy nhiên, dưới góc độ khoa học, phương pháp này tiềm ẩn nhiều rủi ro hơn là lợi ích nếu không có chỉ định y khoa.
Vỏ quýt khô là dược liệu quen thuộc hỗ trợ tiêu hóa, giảm đờm... Tuy nhiên, khi kết hợp đúng cách với các vị thuốc khác, có thể giúp cải thiện nhiều vấn đề sức khỏe thường gặp trong giai đoạn giao mùa.
Giải vô địch bóng đá thế giới FIFA World Cup 2026 sẽ chính thức khởi tranh vào ngày 11/6/2026. Với người hâm mộ bóng đá, đây là khoảng thời gian kéo dài hàng tháng với những trận cầu liên tục, các buổi xem đêm khuya và nhiều giờ liền ngồi trước màn hình TV.
Lá tía tô mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng không phải ai cũng phù hợp sử dụng. Một số đối tượng nếu dùng không đúng cách có thể gặp tác dụng không mong muốn, cần thận trọng khi đưa vào chế độ ăn.
Thông thường, khi nhắc đến ung thư, người ta thường nghĩ ngay đến tình trạng sụt cân nhanh chóng. Tuy nhiên, đối với ung thư đại trực tràng, thực tế lại có thể gây ra những biểu hiện ngược lại như đầy hơi và tăng cân.
Mùa hè mới bắt đầu nhưng nhiều khu vực trên cả nước đã phải đối mặt với những đợt nắng nóng gay gắt, đe dọa sức khỏe cộng đồng.
Nhiều người cho rằng ăn nhiều nhãn, vải dễ gây 'nóng trong', nổi mụn hay nhiệt miệng. Thực tế, điều này có liên quan đến hàm lượng đường cao và cách cơ thể phản ứng với chế độ ăn, đặc biệt khi tiêu thụ quá mức.