Rất nhiều nghiên cứu trước đây đã chỉ ra các lợi ích của việc ăn sôcôla đen. Gần đây, các nhà nghiên cứu còn chứng minh được rằng, ăn một lượng vừa phải sôcôla đen trước khi luyện tập có thể giúp những bệnh nhân bị bệnh động mạch ngoại biên đi bộ được với quãng đường dài hơn. Các nhà nghiên cứu cho rằng, polyphenol trong sôcôla đen sẽ giúp làm thư giãn các mạch máu bị hẹp, giúp lưu thông máu dễ dàng hơn, từ đó khiến việc đi bộ ở những bệnh nhân này trở nên dễ dàng hơn.
Bệnh về mạch máu và tình trạng đi khập khiễng
Tình trạng đi khập khiễng có nguyên nhân là do những cơn đau co rút xảy ra khi các động mạch bị tắc, hoặc do bệnh xơ vữa động mạch khiến máu không được cung cấp đủ tới các cơ bắp, thường là các cơ bắp ở chân. Người bị bệnh động mạch ngoại biên thường bị xơ vữa động mạch và triệu chứng bệnh biểu hiện là sẽ đi khập khiễng. Những người này cũng sẽ có nguy cơ rất cao bị bệnh mạch vành, nhồi máu cơ tim và đột quỵ.
Sôcôla đen có chứa polyphenol, một loại chất chống oxy hóa được nhiều nhà nghiên cứu cho rằng có thể giúp điều chỉnh và dự phòng tình trạng tắc mạch.
Lượng cacao trong sôcôla càng nhiều, hàm lượng polyphenol trong mỗi khẩu phần càng lớn, và về lý thuyết, thì sẽ càng đem lại nhiều lợi ích về sức khỏe.
Thử nghiệm
Nghiên cứu mới đây được tiến hành tại Đại học Sapienza tại Rome, Italy được tiến hành để xác định, liệu ăn sôcôla đen có thể giúp những người bị bệnh động mạch ngoại biên đi lại và giảm đau. Nghiên cứu đã được xuất bản trên tạp chí Journal of the American Heart Association.
20 người tham gia nghiên cứu là những người bị bệnh động mạch ngoại biên. Trước khi ăn sôcôla, họ sẽ cố gắng đi được quãng đường xa nhất có thể trên máy đi bộ. Sau đó, họ được cho ăn 40 gam sôcôla đen 85% cacao (tương đương với khoảng 1 thanh sôcôla). Hai giờ sau, họ sẽ đi bộ lại trên máy đi bộ một lần nữa. Trong lần thứ 2, những người được ăn sôcôla đen đi bộ được thêm 17 giây và đi được quãng đường xa hơn khoảng gần 12m so với lúc trước. Các nhà nghiên cứu cũng tiến hành thử nghiệm tương tự với sôcôla sữa chứa dưới 30% cacao, nhưng sôcôla sữa không đem lại kết quả tích cực như vậy!
Về lý thuyết, sôcôla đen giàu polyphenol có thể giúp làm giãn các mạch máu, cho phép lượng máu chảy đến chân nhiều hơn. Trên thực tế, trong thử nghiệm này, các nhà khoa học đã thấy sự tăng nồng độ nitric oxit trong máu những người tham gia sau khi tiêu thụ sôcôla đen, mức độ các chất gây stress oxy hóa trong máu của những người này cũng giảm đi. Đây là 2 yếu tố quan trọng giúp tăng cường lượng máu và giảm đau trong tình trạng đi khập khiễng ở những người bị bệnh động mạch ngoại biên.
Tuy nhiên cần có thêm nhiều nghiên cứu nữa, được tiến hành trên quy mô rộng hơn và tiến hành trên nhiều bệnh nhân hơn để khẳng định được tác dụng này của sôcôla đen. Nhưng, những gì mà nghiên cứu này chứng minh được là rất ấn tượng và hoàn toàn có thật. Và những tác dụng được chứng minh của sôcôla đen không chỉ có lợi với người bị bệnh động mạch ngoại biên mà cũng có lợi với phần lớn mọi người. Bởi khi các mạch máu được giãn ra, huyết áp cũng sẽ có xu hướng giảm đi một chút. Giảm được huyết áp, cũng là giảm được yếu tố nguy cơ của rất nhiều căn bệnh mãn tính nguy hiểm, như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường…
Thưởng thức sôcôla đen với lượng vừa phải
Nếu bạn yêu thích sôcôla đen, thì hãy tiếp tục niềm yêu thích này, nhưng nên nhớ là chỉ nên ăn sôcôla đen với lượng vừa phải. Mặc dù polyphenol trong sôcôla đúng là có lợi thật, nhưng ăn đa dạng các loại thực phẩm tốt cho sức khỏe và dinh dưỡng cân đối mới là cách điều trị tốt nhất. Ai cũng muốn dùng sôcôla để chữa bệnh, nhưng cũng không nên quên đi những yếu tố nguy cơ truyền thống và hết sức quan trọng của bệnh động mạch ngoại biên, đó là hút thuốc, bệnh tiểu đường typ 2 và lười vận động. Do vậy, thay đổi những yếu tố nguy cơ này mới là biện pháp quan trọng nhất để kiểm soát bệnh động mạch ngoại biên.
Các biện pháp tự nhiên, như sử dụng magie và bồ công anh, có thể hỗ trợ sức khỏe túi mật, trong khi chế độ ăn uống cũng đóng vai trò quan trọng. Việc chú trọng bổ sung chất xơ và chất béo lành mạnh, đồng thời hạn chế tinh bột tinh chế và chất béo chuyển hóa là một cách tiếp cận chủ động để phòng ngừa bệnh túi mật.
Mỗi mùa World Cup hay các giải bóng đá lớn khởi tranh luôn là ngày hội lớn đối với người hâm mộ môn thể thao vua. Tuy nhiên, do sự khác biệt về múi giờ quốc tế, phần lớn các trận đấu thường diễn ra vào khung giờ đêm muộn hoặc rạng sáng. Để thỏa mãn niềm đam mê, nhiều người sẵn sàng thiết lập chế độ "sinh hoạt ngược", liên tục thức đêm để đồng hành cùng quả bóng tròn.
Trong khuôn khổ hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội năm 2027, Liên hiệp các Hội Khoa học và Kỹ thuật Việt Nam đã tổ chức phiên họp Hội đồng tư vấn xét duyệt đề cương đề tài: “Đánh giá thực trạng và nhu cầu khám sức khỏe định kỳ của người dân và đề xuất chính sách, giải pháp nhằm tăng cường khám sức khỏe định kỳ cho người dân tại y tế cơ sở theo Nghị quyết số 72-NQ/TW của Bộ Chính trị”
Bệnh tiểu đường (hay đái tháo đường) là một căn bệnh mạn tính liên quan đến cách cơ thể sản xuất hoặc sử dụng insulin. Theo thống kê, hàng triệu người đang sống chung với căn bệnh này nhưng một phần lớn trong số đó không hề biết mình mắc bệnh cho đến khi xuất hiện biến chứng.
Sốc nhiệt là tình trạng nguy hiểm đe dọa tính mạng khi cơ thể không thể điều hòa nhiệt độ hiệu quả trong môi trường nắng nóng.
Sỏi thận có thể gây táo bón và các vấn đề về đường tiêu hóa khác, ngoài các triệu chứng "điển hình" như đau vùng hông và đi tiểu thường xuyên. Nhiều vấn đề trong số này là do sự gián đoạn tín hiệu thần kinh giữa ruột và não, gây ra các triệu chứng như đau bụng, đầy hơi, buồn nôn, táo bón, tiêu chảy và nôn mửa.
Trong bối cảnh đô thị hóa và mật độ dân số cao, các khu vực công cộng trung tâm thương mại, giao thông, sự kiện đông người hay trường học là nơi lý tưởng để các bệnh hô hấp lây lan qua không khí hoặc tiếp xúc. Việc hiểu cơ chế lây truyền và áp dụng biện pháp phòng ngừa là then chốt để bảo vệ bản thân và duy trì sức khỏe cộng đồng bền vững.
Ung thư phổi chủ yếu là một căn bệnh của tuổi già, với độ tuổi chẩn đoán trung bình vào khoảng 70, và hơn 70% số ca mắc xảy ra ở những bệnh nhân trên 65 tuổi. Mặc dù việc chẩn đoán ở giai đoạn sớm thực tế lại phổ biến hơn ở người cao tuổi, nhưng họ thường phải đối mặt với tình trạng điều trị không đầy đủ do các bệnh lý nền đi kèm hoặc do thể trạng yếu.