Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Phương pháp xem mạch của Hải Thượng Lãn Ông

Xem mạch là phần cơ bản và tối quan trọng đối với người thầy thuốc lâm sàng Đông y. Hải Thượng Lãn Ông, người có học vấn uyên thâm về y học phương Đông, văn võ kinh luân uyên bác, nhiều nghiên cứu của ông trong đó có phương pháp xem mạch giúp người đọc dễ hiểu, người chữa bệnh chóng tìm ra bệnh.

Dưới đây chúng tôi xin giới thiệu cùng bạn đọc phương pháp xem mạch của Hải Thượng Lãn ông. Người đã biết xem mạch rồi thì để hiểu sâu hơn, người chưa biết xem thì qua bài viết này mà tự nghiên cứu, để biết xem mạch trước khi điều trị cho bệnh nhân.

Bốn loại mạch lớn là khí huyết của con người

Mạch là khí huyết của con người, được ký ngụ trong hơi thở, biểu hiện ra ở hai tay, mỗi tay chia ra ba bộ, bộ thốn là dương, bộ xích là âm, bộ quan ở giữa âm và dương. Để biết mạch của người bình thường phải xem lẻ từng bộ. Bộ thốn của tay trái là vị trí của tạng tâm và tiểu tràng; thuộc hành hỏa, mạch hiện ra phù đại, mà tán là mạch bình thường. Bộ quan tay trái là vị trí của tạng can và đởm, thuộc hành mộc, mạch huyền mà nhuyễn là mạch bình thường. Bộ xích tay trái là vị trí của tạng thận và bàng quang, thuộc thủy, mạch trầm mà hoạt là mạch bình thường. Bộ thốn bên tay phải là vị trí của tạng phế và đại tràng, thuộc hành kim, mạch hiện ra phù mà sác là mạch bình thường. Bộ quan ở bên tay phải, thuộc vị trí của tạng tỳ và vị, thuộc hành thổ, mạch hòa mà hoãn là mạch bình thường. Bộ xích bên tay phải là vị trí của thận và tâm bào lạc, tam tiêu, thuộc tướng hỏa, mạch trầm mà thực là mạch bình thường. Gộp cả ba bộ xem chung mà trong mỗi hơi thở mạch đập 4 nhịp (một lần thở ra và một lần hít vào là một hơi thở) mạch không trầm, không phù, không trì, không sác, mạch đi hòa hoãn, đều đặn đó là mạch bình thường, không có bệnh. Khi mạch có bệnh thì tùy theo khí huyết thịnh suy, hàn nhiệt của từng người mà mạch có biến hóa khác nhau. Những người khí huyết thịnh mà nhiệt, khi cảm nhiễm phải tà khí lục dâm (phong, hàn,  thử, thấp, táo, hỏa) mạch sẽ biến ra phù, sác, hồng, trường, hoạt, đại, huyền, khẩn, khâu, thực đều thuộc mạch dương. Đó là bệnh ngoại cảm đang ở phần biểu, bệnh thuộc ngoại tà thực chứng.

Nếu khí huyết của người thuộc hư mà hàn, khi mắc chứng nội thương thất tình (mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, kinh, sợ) mạch sẽ biểu hiện ra dạng trầm, trì, nhuyễn, nhược, nhu, sác, hoãn, phục, tế, mạch hư thuộc loại mạch âm. Đó là bệnh nội thương ở phần lý, bệnh thuộc chính khí hư. Mạch có 27 loại trong tập “mạch quyết” của Vương Thúc Hòa đã  nói đầy đủ. Nhưng tên mạch thì nhiều, lý luận của mạch thì huyền vi (kỳ diệu), khó mà hiểu được một cách sâu sắc. Nay xin tóm tắt như sau: Mạch phù, mạch sác là cùng loại mạch dương, mạch trầm, mạch trì là cùng loại mạch âm, gọi chung là 4 loại mạch lớn để mọi người dễ hiểu.

phuong-phap-xem-mach-cua-hai-thuong-lan-ong-1

Phương pháp chẩn bệnh qua bắt mạch của Hải Thượng Lãn Ông vẫn được duy trì đến ngày nay.

Cách tìm mạch để chẩn bệnh

Đặt đầu ngón tay vào vị trí để tìm mạch, mới nhẹ tay ấn vào da đã thấy mạch đập đó là mạch phù, lấy hơi thở để đoán mạch thì một hơi thở mạch đập 5-6 nhịp, đó là mạch sác, khi ấn mạnh tay xuống đến phần thịt, thấy mạch dội vào đầu ngón tay, càng ấn tay xuống gần xương mà sức đập của mạch không hề giảm sút, đó là mạch phù sác có lực, mạch phù thuộc chứng phong, mạch sác thuộc nhiệt chứng. Đó là điều khẳng định không còn nghi ngờ gì nữa, khi điều trị phải trục phong thanh nhiệt là bệnh sẽ giảm. Nếu ấn tay xuống từ từ mạch cũng từ từ giảm dần, không thấy mạch dội vào đầu ngón tay, là mạch phù sác nhưng không có lực. Đó là mạch của chứng hư hỏa, hư nhiệt, hoặc do khí huyết hư, bệnh thuộc nội thương, không được nhầm lẫn với chứng ở trên. Từ đó mà suy ra các loại mạch khác như hồng, đại, hoạt, trường…

Một số mạch khác: Khi đặt nhẹ ngón tay vào vị trí xem mạch, ngón tay đặt ở ngoài da chưa thấy mạch, ấn nhẹ xuống phần thịt bắt đầu thấy mạch, ấn nặng tay xuống đến tận xương mạch đập rõ dần. Đấy là mạch trầm. Mỗi hơi thở mạch đập 3 lần hoặc chưa đến 3 lần, đó là mạch trì, nhưng khi ấn mạnh tay hơn mà không thấy mạch dội ở đầu ngón tay, càng ấn thì lực mạch càng giảm, đó là mạch trầm trì không có lực, là mạch thuộc hàn chứng. Khi điều trị phải dùng phương pháp ôn bổ. Nếu ấn tay xuống dần dần thấy mạch dội ở đầu ngón tay, sức dội của mạch càng mạnh dần lên, đó là mạch trầm trì có lực. Bệnh thuộc loại tích tụ hoặc bệnh nhân mắc chứng trưng hà (có hòn cục trong bụng). Nếu bệnh thuộc chứng thương hàn thì nhiệt đã vào tạng phủ. Khi điều trị phải dùng thuốc ôn bổ để tiêu tích tụ, hoặc dùng thuốc thông lợi để trị chứng táo bón. Không nên nhầm với chứng hàn lạnh ở phần trên. Từ đó mà suy ra các loại mạch hư, tế, nhu, sáp. “Mạch càng phù sác thì mức độ hư càng nặng”. Đó là nói về loại mạch phù sác mà vô lực.

Tóm lại, mạch dương mà có lực, khi biện luận phải là dương chứng, khi điều trị phải dùng phương pháp thanh giải hoặc phát hãn. Nếu mạch dương mà không có lực thì khi biện luận bệnh thuộc chứng hư hàn. Mạch âm mà không có lực khi biện luận phải là âm chứng dùng thuốc để ôn tán hoặc ôn bổ. Nếu mạch âm mà có lực nên biện chứng bệnh thuộc loại thực nhiệt.

Mạch có lực hay không có lực đã là tiêu chuẩn để xem xét bệnh chưa? Nếu mạch do chứng bị ức chế mà hoãn, hoặc người bị khiếp sợ mà mạch phục, hoặc đau dữ dội cũng có mạch phục, bệnh thổ tả nặng cũng có mạch phục, cho nên không thể xem mạch một cách chung chung. Khi xem mạch cần chú ý mạch có vị khí hay không? Nếu mạch có vị khí thì sống, mạch không có vị khí thì chết. Cho nên khi xem mạch cần ấn nhẹ tay để tìm khí của phủ, ấn sâu để tìm khí của tạng, ấn trung bình để tìm vị khí (vị khí là khí của trung tiêu, nếu ốm mà vị khí tốt thì dù bệnh nặng, bệnh nhân vẫn sống, nhưng bệnh nhẹ mà vị khí hết thì bệnh nhân cũng tử vong). Ấn trung bình là đặt các ngón tay ấn vừa phải, không nặng quá cũng không nhẹ quá. Nhưng chưa đủ: Nếu về mùa xuân thì can mộc vượng ở cả sáu bộ mạch đều có kiêm huyền. Mùa hạ thì tâm hỏa vượng cả sáu bộ mạch đều kèm theo hồng. Mùa thu thì phế kim vượng cả sáu bộ mạch đều kiêm hơi mao (nổi nhẹ). Về mùa đông thì thận thủy vượng, cả sáu bộ mạch đều kiêm mạch thạch (chìm chắc) nhẹ. Mạch ở bốn tháng cuối của bốn mùa là tháng tỳ thổ vượng, sau sáu bộ mạch đều kèm theo hòa hoãn. Đó là mạch có vị khí. Nếu chỉ thấy đơn thuần mạch huyền, mạch hồng, mạch mao, hay mạch thạch mà không có hòa hoãn là mạch chân tạng, mạch không có vị khí.

phuong-phap-xem-mach-cua-hai-thuong-lan-ong-2

Mạch của trẻ em thường nên hồng sác, mạch của người trai tráng nên hồng hoạt, nếu mới mắc bệnh thì mạch nên hồng và trường. Nếu bệnh thuộc dương chứng mà mạch dương là mạch với chứng hợp nhau thuộc bệnh dễ chữa. Song trong mạch có hiện tượng hồng hoạt, có chút hòa dịu không đến nỗi cứng rắn, mới là mạch có vị khí.

Người mới sinh đẻ thường có mạch tế nhược, vì khí huyết đang bị tổn thương. Người già mạch thường nhu nhược vì các bộ phận trong người đều suy thoái, khí huyết suy kém lưu thông chậm. Người ốm lâu ngày thường có mạch nhu tế. Bệnh thuộc âm chứng, mà mạch tượng cũng âm là giữa mạch và bệnh thuận, dễ điều trị. Trong trường hợp mạch nhu nhược nhưng có lưu lợi là mạch có vị khí. Nếu mạch hồng sác là mạch không có vị khí, vì mạch hồng sác trái với âm chứng. Nếu bệnh thuộc dương chứng, mạch hồng sác là giữa bệnh và mạch thuận với nhau mạch có vị khí dễ điều trị. Nếu xuất hiện mạch trì nhu là trái ngược với bệnh thuộc loại mạch không có vị khí bệnh thuộc loại khó điều trị.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Cảm xúc và bệnh tật trong Y học cổ truyền

TTND.BS. Nguyễn Xuân Hướng - Theo Sức khỏe & Đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 04/03/2026

    Cách sử dụng dưa chuột hỗ trợ hạ mỡ máu

    Dưa chuột được xem là thực phẩm có lợi cho người mỡ máu cao nhờ thành phần giàu nước và chất xơ. Tuy nhiên, để hỗ trợ kiểm soát mỡ máu hiệu quả, việc sử dụng dưa chuột đúng cách và hợp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ.

  • 04/03/2026

    Đau lưng mãn tính: Nguyên nhân và giải pháp từ chuyên gia

    Đau lưng đã trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt phổ biến ở dân văn phòng do thói quen ngồi làm việc lâu, dễ dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Khi cơn đau kéo dài trên 3 tháng, đó là dấu hiệu của đau lưng mãn tính. Để kiểm soát và cải thiện tình trạng này, điều quan trọng là phải hiểu rõ căn nguyên và áp dụng các giải pháp phù hợp như thay đổi thói quen và thực hiện các bài tập chuyên biệt. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân cốt gây ra chứng đau lưng mãn tính và các phương pháp khoa học giúp điều trị đau lưng hiệu quả.

  • 03/03/2026

    Giảm cân sau Tết: Cẩn trọng “bẫy” quảng cáo thần tốc

    Sau Tết, nhu cầu giảm cân tăng cao nhưng các phương pháp “thần tốc” tiềm ẩn nhiều rủi ro, đòi hỏi người dân phải tỉnh táo lựa chọn giải pháp an toàn và khoa học.

  • 03/03/2026

    Danh sách 291 mỹ phẩm bị thu hồi

    Danh sách 291 mỹ phẩm bị thu hồi

  • 03/03/2026

    Tăng cường hệ miễn dịch qua thảo dược - một góc nhìn khoa học

    Thảo dược là tập hợp các thực vật đã được nhân loại sử dụng trong chăm sóc sức khỏe từ lâu đời.

  • 03/03/2026

    7 cách tăng testosterone tự nhiên giúp nam giới duy trì 'phong độ'

    Testosterone là hormone quan trọng ảnh hưởng tới sức khỏe sinh lý, khối lượng cơ bắp và mật độ xương ở nam giới. Dù nồng độ hormone này suy giảm theo tuổi tác, nhưng lối sống khoa học có thể giúp cải thiện testosterone một cách tự nhiên và an toàn.

  • 03/03/2026

    Dầu thực vật có hại cho sức khỏe hay đang bị hiểu sai?

    Dầu thực vật đang bị gắn mác "kẻ thù" của sức khỏe, với những lo ngại về viêm nhiễm, bệnh tim mạch và quy trình chế biến. Tuy nhiên, các nghiên cứu trong những năm gần đây cho thấy dầu thực vật không phải là “thủ phạm” gây bệnh. Vấn đề cốt lõi nằm ở việc bạn lựa chọn loại dầu nào để sử dụng, cách chế biến và liều lượng tiêu thụ như thế nào?

  • 02/03/2026

    Táo ta có tác dụng gì?

    Trong kho tàng Y học cổ truyền Việt Nam, táo ta không chỉ là loại trái cây dân dã, gắn bó với làng quê mà còn được coi là một vị thuốc quý, có tác dụng bồi bổ cơ thể, hỗ trợ phòng và trị nhiều chứng bệnh thường gặp.

Xem thêm