Những triển vọng mới trong điều trị đau nửa đầu
Đau nửa đầu gây ra những cơn đau nghiêm trọng và là nguyên nhân đứng thứ 7 gây ra tàn tật trên toàn cầu. Rất nhiều bệnh nhân đang phải vật lộn để tìm ra cách giảm thiểu những cơn đau mang tính tự sát này. Mỗi cá nhân chỉ có khoảng 45% cơ hội đáp ứng tốt với các phương pháp điều trị và không có phương pháp đặc trị nào cho mỗi cá nhân.
Đau nửa đầu thực sự là một bệnh lý rất phức tạp, đó cũng chính là lý do tại sao bệnh này lại khó có phương pháp điều trị hiệu quả. Không chỉ là những cơn đau đầu đơn thuần, đau nửa đầu còn có hàng tá các triệu chứng xuất hiện trước khi cơn đau đầu hành hạ bệnh nhân và những triệu chứng này có thể kéo dài đến hàng giờ, thậm chí vài ngày. Nếu đã từng mắc đau nửa đầu, bạn sẽ không thể quên được cảm giác suy nhược toàn thân khi cơn đau chấm dứt.
Mặc dù có một vài loại thuốc được dùng để điều trị chứng đau nửa đầu nhưng chúng dường như chưa hiệu quả lắm và một số loại lại còn ảnh hưởng đến tim. Để đưa ra nhưng phương pháp điều trị có tiềm năng nhiều hơn, các nhà nghiên cứu đã ứng dụng những hiểu biết mới về não bộ nhằm điều trị chứng đau nửa đầu theo một cách mới. Một số phương pháp điều trị mới đang trong giai đoạn phát triển nhưng hứa hẹn nhiều triển vọng cho bệnh nhân và được trình bày trong hội nghị thần kinh thường niên của Mỹ năm 2017.
Hình ảnh chụp não đã soi sáng nguyên nhân gây đau nửa đầu
Các bác sỹ thường nghĩ rằng đau nửa đầu do một số mạch máu não "dãn" quá rộng. Do đó nhiều loại thuốc điều trị đau nửa đầu như ergots và triptans ra đời nhằm mục đích làm co hẹp mạch. Nhưng chính việc co thắt các mạch này có thể ảnh hưởng rất nhiều đến tim, do đó đây không phải là sự lựa chọn an toàn cho bất cứ bệnh nhân nào có bệnh tim.
HIện nay, các nhà nghiên cứu xem chứng đau nửa đầu là bệnh của não bộ. Các thử nghiệm như chụp PET và MRI cho thấy những thay đổi của não bộ trong thời gian cưn đau nửa đầu diễn ra. Những thử nghiệm này cho thấy não bộ đã hoạt động ra sao ở những pha khác nhau khi cơn đau đầu diễn ra.

Những loại thuốc điều trị đau nửa đầu mới
Một số loại thuốc mới được bào chế với mục đích ngăn chặn hoạt động của CGRP được nhiều nhà khoa học quan tâm đến, bao gồm những kháng thể đơn dòng như eptinezumab, erenumab, fremanezumab và galcanezumab dùng để truyền tĩnh mạch hoặc cấy dưới da để giải phóng chậm. Một thế hệ thuốc khác cũng gọi là kháng thụ thể CGRP dùng đường uống gồm có atogepant và ubrogepant. Tất cả những thuốc này đều đang được thử nghiệm lâm sàng.
PACAP cũng là một chất được các nhà nghiên cứu quan tâm trong việc điều trị đích của đau nửa đầu. PACAP là nằm trong thần kinh cảm giác ở não bộ, liên quan đến quá trình báo hiệu cơn đau.
Các phương pháp điều trị đau nửa đầu khác
Thuốc chỉ là một trong những phương pháp điều trị chứng đau nửa đầu, vẫn còn những phương pháp khác được gọi là Neuromodulation gửi những xung điện đến các dây thần kinh tham gia vào quá trình đau nửa đầu. Phương pháp này có thể ngăn ngừa và điều trị đau nửa đầu và có rất ít tác dụng phụ.
Kích thích sóng điện từ đơn (sTMS) là một thiết bị cầm tay cho phép gửi các xung thông qua da để ngăn chặn sự tấn công của cơn đau đầu. Thiết bị Spring TMS đã được Cục quản lý thực phẩm và dược phẩm Hoa Kỳ (FDA) cho phép để điều trị đau nửa đầu có aura dưới sự giám sát của bác sỹ. Chi phí rơi vào khoảng 750$ cho 3 tháng điều trị (thuê máy). Tác dụng phụ của phương pháp này gồm có ù tai, chóng mặt, ngứa ran ở phần sau đầu khi sử dụng máy và đôi khi là còn làm cơn đau nửa đầu nặng thêm.

Ngoài ra còn có một số phương pháp khác như sử dụng thiết bị kích thích thần kinh X ở cổ -gamma core - kích thích thần kinh ngoại vi của dây thần kinh X không xâm lấn qua da. Năm 2016, người ta thấy rằng kich thích dây thần kinh X sẽ làm giảm số ngày đau đầu mà không gây ra tác dụng phụ nào. Tuy nhiên FDA vẫn chưa chấp thuận phương pháp trên trong điều trị đau nửa đầu
Thông tin thêm về thuốc điều trị đau nửa đầu tại bài viết: Các thuốc điều trị đau nửa đầu
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.