Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Viêm khớp dạng thấp và mất cân bằng hormone

Viêm khớp dạng thấp (VKDT) là một bệnh tự miễn gây nên viêm khớp mạn tính.

Hệ miễn dịch của cơ thể bắt đầu tấn công chính mình thay vì những kháng nguyên lạ ví dụ như vi khuẩn hoặc virus. Hậu quả của tình trạng này là sự dày lên của bao khớp, gây nên sưng đau. Qua thời gian, viêm khớp dạng thấp (VKDT) có thể dẫn đến mất sụn và xương, cũng như biến dạng khớp. Căn bệnh này phổ biến ở nữ gấp 3 lần nam giới. Phụ nữ thường mắc phải rối loạn này trong độ tuổi từ 30 đến 60, còn nam giới thường mắc bệnh này vào độ tuổi muộn hơn.

Triệu chứng của VKDT 

Triệu chứng của VKDT bao gồm :

  • Đau, sưng, đỏ các khớp
  • Cứng khớp, đặc biệt là vào buổi sáng, có hể kéo dài đến vài giờ
  • U cứng dưới da vùng cánh tay
  • Sốt
  • Mệt mỏi
  • Biến dạng các khớp dần dần xuất hiện theo thời gian và mức độ nặng của bệnh
  • Giảm cân không kiểm soát

VKDT thường ảnh hưởng đến các khớp nhỏ của cơ thể trước, đặc biệt là những khớp ở ngón tay, ngón chân. Qua  thời gian, VKDT có thể lan đến những khớp sau :

  • Cổ tay
  • Khuỷu tay
  • Mắt cá
  • Khớp hông
  • Khớp vai
VKDT cũng có thể ảnh hưởng nhiều hơn lên các khớp của bạn. Triệu chứng có ở những phần khác của cơ thể bao gồm :
  • Da
  • Mắt
  • Phổi
  • Mạch máu

VKDT có thể xuất hiện theo nhiều cách. Tuy nhiên, triệu chứng thường đối xứng, có nghĩa là chúng ảnh hưởng như nhau lên các khớp ở cả 2 bên cùng một lúc. Triệu chứng cũng có tính di chuyển, tức là viêm các khớp này rồi tự hết và chuyển sang các khớp khác. Các đợt viêm khớp có thể kéo dài trong vài tuần sau đó các triệu chứng tự hết nhưng tái phát nhiều đột trong năm.

Nguyên nhân gây VKDT là gì ?

Nguyên nhân chính xác của VKDT chưa được biết đến, nhưng như hầu hết các bệnh tự miễn, có nhiều yếu tố khác nhau như do gen hoặc do môi trường có thể dẫn đến bệnh VKDT. Trong đó, yếu tố về gen được coi là yếu tố nguy cơ cao hơn. Những yếu tố khác vẫn đang được nghiên cứu, ví dụ như béo phì và sự kích thích từ môi trường.

Hormone ảnh hưởng đến VKDT như thế nào ?

Các chuyên gia y tế đã nghiên cứu mối liên hệ giữa VKDT và hormone. Với phụ nữ, duy trì hàm lượng hormone sinh dục estrogen và progesteron ổn định giúp chống lại VKDT.

Nghiên cứu trong một nhóm nhỏ phụ nữ trung niên mắc VKDT cho thấy họ có xu hướng xuất hiện ít những triệu chứng của khớp trong suốt thời kì rụng trứng trong chu kì kinh nguyệt và mang thai. Đây cũng là khoảng thời gian mà nồng độ estrogen và progesteron tăng cao. Phụ nữ mắc VKDT cũng cho biết những triệu chứng của họ tồi tệ hơn sau khi sinh con và trong suốt tuần thứ 2 của chu kì kinh nguyệt khi nồng độ hormone sinh dục là thấp nhất.

Nồng độ hormone sinh dục ở phụ nữ giảm dần theo tuổi. Phụ nữ tiền mãn kinh, mãn kinh hoặc đã qua giai đoạn mãn kinh có sự giảm nồng độ những hormone này và đây được cho là lí do tại sao nhóm phụ nữ này mắc VKDT nhiều hơn những đối tượng khác. Điều này cũng là lí do vì sao một số bác sĩ khuyến cáo phụ nữ mãn kinh nên bắt đầu điều trị bằng liệu pháp hormone thay thế.

Nghiên cứu cho rằng liệu pháp hormone thay thế sử dụng kết hợp progesteron và estrogen, có thể giảm triệu chứng chung của VKDT ở phụ nữ. Tuy nhiên, iệu pháp hormone thay thế có thể tăng sự nhạy cảm với bệnh trong các đợt cấp. Những ảnh hưởng có thể xảy ra bao gồm :

  • Tích nước
  • Ngực căng hoặc sưng lên
  • Đau đầu
  • Thay đổi cảm xúc

Bạn cần hiểu những ảnh hưởng có thể xảy ra khi sử dụng liệu pháp hormone thay thế trước khi bạn bắt đầu điều trị.

Các phương pháp điều trị VKDT khác

Tổn thương khớp có thể ảnh hưởng đến nhiều cơ quan của cơ thể. Do sự tổn thương không thể phục hồi, nên chẩn đoán và điều trị sớm thường cho kết quả tốt nhất.

Kiểm soát triệu chứng và ngăn tổn thương khớp

Không có phương pháp chữa khỏi VKDT, chính vì thế mục đích chính của việc điều trị là kiểm soát triệu chứng và ngăn ngừa tổn thương khớp. Những điều trị phổ biến với VKDT bao gồm :

  • Thuốc kháng viêm không chứa steroid để giảm đau và chống viêm 
  • Thuốc steroid để giảm đau và chống viêm
  • Thuốc chống viêm khớp để làm giảm tiến triển của VKDT
  • Liệu pháp sinh học để ngăn những phần của hệ miễn dịch khởi phát quá tình viêm

Tham khảo về những lợi ích và tác dụng phụ của từng loại thuốc, tuân thủ hướng dẫn của bác sỹ khi điều trị là rất quan trọng.

Vật lí trị liệu

Bác sỹ vật lí trị liệu có thể hướng dẫn bạn những bài tập giúp giữ khớp dẻo dai, làm giảm một số triệu chứng của VKDT. Bác sỹ cũng đưa ra những cách dễ hơn để thực hiện những hoạt động hàng ngày và cho bạn thấy cách sử dụng các thiết bị hỗ trợ .

Phẫu thuật

Trong những trường hợp nghiêm trọng, phẫu thuật được tiến hành để thay thế khớp bị tổn thương nặng. Phẫu thuật cho phép một người mắc VKDT khôi phục lại phần nào hoạt động của các khớp bị tổn thương; đồng thời làm giảm đau và sửa chữa những biến dạng khớp gây ra bởi VKDT. Có một vài thủ thuật bao gồm :

  • Thay khớp toàn bộ: Những phần tổn thương của khớp được loại bỏ và thay bằng khớp giả được làm từ kim loại và nhựa tổng hợp.
  • Sửa gân: Gân bị đứt hoặc có nguy có bị đứt xung quanh khớp bị ảnh hưởng được sửa chữa.
  • Nối lại khớp: một khớp được nối với một xương hoặc khớp khác để giúp chúng cố định và giảm đau. Lựa chọn này được sử dụng khi không có khả năng thay thế khớp.

Như hầu hết các ca phẫu thuật, phẫu thuật VKDT có nguy cơ chảy máu, nhiễm trùng, và đau. Do vậy hãy hỏi ý kiến bác sỹ kỹ lưỡng trước khi tiến hành các thủ thuật trên khớp.

Bạn có thể làm gì?

Hiện nay, mối liên hệ giữa hormone và VKDT vẫn còn rất nhiều điểm cần nghiên cứu làm sáng tỏ. Các nhà khoa học vẫn đang nghiên cứu về hàm lượng hormone nào có thể ngăn chặn hiệu quả hoặc làm giảm những triệu chứng của VKDT ở phụ nữ.

Do vậy bạn hãy tìm hiểu thêm các thông tin về VKDT và nên đi khám bác sỹ ngay khi phát hiện bất cứ triệu chúng nào của bệnh để được tư vấn và điều trị kịp thời.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Nấu ăn giảm viêm cho người viêm khớp dạng thấp

Bình luận
Tin mới
  • 03/04/2025

    Đẻ mắc vai hay dấu hiệu “con rùa” trong sản khoa

    Đẻ mắc vai hay còn gọi là dấu hiệu “con rùa” - là tình trạng xảy ra khi một hoặc cả hai vai của em bé bị kẹt trong quá trình sinh thường. Không có dấu hiệu báo trước và không có cách nào để ngăn ngừa tình trạng này xảy ra. Nguyên nhân gây ra tình trạng này có thể bao gồm việc em bé quá lớn, xương chậu của mẹ nhỏ hoặc đỡ đẻ sai tư thế. Tình trạng này có thể dẫn đến các biến chứng nghiêm trọng bao gồm cả chấn thương thần kinh cho em bé. Cùng đọc bài viết sau để hiểu thêm về tình trạng này!

  • 02/04/2025

    Nâng cao tầm vóc Việt

    Tầm vóc không chỉ là thước đo chiều cao đơn thuần mà còn phản ánh sức khỏe và sự phát triển toàn diện của một dân tộc. Tuy nhiên, thực trạng chiều cao của người Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều hạn chế so với bạn bè quốc tế

  • 01/04/2025

    Tăng cường miễn dịch cho trẻ mùa xuân

    Mùa xuân đến, mang theo không khí ấm áp và sức sống mới cho vạn vật. Tuy nhiên, đây cũng là thời điểm giao mùa, khí hậu biến đổi thất thường, tạo điều kiện cho các loại vi khuẩn, virus và mầm bệnh sinh sôi phát triển.

  • 01/04/2025

    Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ: Hiểu đúng và đồng hành cùng người tự kỷ

    Ngày 2 tháng 4 hàng năm, thế giới cùng hướng về Ngày Thế Giới Nhận Thức về Tự Kỷ – một sự kiện do Liên Hợp Quốc khởi xướng nhằm kêu gọi sự quan tâm sâu sắc hơn đến rối loạn phổ tự kỷ (ASD).

  • 31/03/2025

    Chăm sóc da cho bé vào mùa xuân: Mẹo nhỏ cho mẹ

    Mùa xuân là thời điểm giao mùa, khí hậu thất thường, hanh khô, độ ẩm thấp, dễ gây ra những ảnh hưởng không tốt đến làn da nhạy cảm của trẻ nhỏ.

  • 30/03/2025

    Những thay đổi về làn da tuổi mãn kinh

    Tuổi mãn kinh không chỉ gây ra nhiều vấn đề về sức khỏe sinh lý nữ, mà còn ảnh hưởng đến làn da. Chị em phụ nữ nên lưu ý điều gì khi chăm sóc da tuổi ngoài 40?

  • 30/03/2025

    Người cao tuổi và bệnh giao mùa

    Giao mùa là thời điểm chuyển tiếp giữa các mùa trong năm, kéo theo sự thay đổi của thời tiết, khí hậu. Đối với người cao tuổi, giai đoạn này thường tiềm ẩn nhiều nguy cơ sức khỏe do hệ miễn dịch suy giảm và cơ thể dần lão hóa.

  • 29/03/2025

    Đi bộ nhanh mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong

    Một nghiên cứu mới cho thấy, hoạt động thể chất vừa phải như đi bộ nhanh, yoga, làm vườn… mỗi ngày có thể giúp giảm nguy cơ tử vong.

Xem thêm