Nên bắt đầu cho bé ăn dặm ở độ tuổi nào?
5 lý do không nên cho trẻ ăn dặm trước 4-6 tháng tuổi

1. Ruột chưa trưởng thành
Ruột là hệ thống sàng lọc quan trọng của cơ thể, giúp loại bỏ các chất có thể gây hại và tiếp nhận các chất dinh dưỡng cần thiết. Vào những tháng đầu đời, hệ thống này chưa trưởng thành. Giữa tháng thứ 4 và tháng thứ 7, niêm mạc ruột trải qua giai đoạn phát triển mạnh mẽ gọi là thời kỳ ‘đóng’ ruột, nhờ đó thành ruột có khả năng hạn chế sự thâm nhập của các thành phần bất lợi. Thông thường, để ngăn ngừa thực phẩm có khả năng gây dị ứng xâm nhập vào dòng máu, ruột trưởng thành tiết ra IgA, một globulin miễn dịch có tác dụng bao bọc ruột và ngăn ngừa các dị nguyên có hại đi qua. Trong những tháng đầu đời, cơ thể bé sản xuất rất ít IgA (mặc dù sữa mẹ chứa nhiều protein này), vì vậy các phân tử thức ăn có khả năng gây dị ứng sẽ đi vào dòng máu một cách dễ dàng, kích thích hệ miễn dịch sản sinh kháng thể, tạo nên phản ứng dị ứng với thức ăn. Khi bé được 6 tháng tuổi, ruột trưởng thành hơn và khả năng lọc bỏ các tác nhân gây dị ứng sẽ cao hơn. Các gia đình có tiền sử dị ứng thức ăn cần đặc biệt chú ý không cho trẻ ăn dặm quá sớm.
2. Phản xạ đẩy lưỡi cản trở việc đưa thức ăn vào họng
Lúc mới chào đời, trẻ chỉ có khả năng tiếp nhận thức ăn lỏng. Khi bất kỳ vật lạ nào (trừ núm vú) được đưa vào miệng, bé sẽ tự động thè lưỡi đẩy vật ra ngoài thay vì thụt lưỡi cho phép vật lạ đi vào trong miệng. Phản xạ giúp bé khỏi bị hóc này sẽ dần giảm khi trẻ được 4-6 tháng tuổi.
3. Cơ chế nuốt chưa hoàn thiện
Trước 4 tháng, cơ chế nuốt của trẻ chỉ phù hợp với việc bú mút, không phù hợp với việc nhai. Trẻ ở độ tuổi này chưa có khả năng phối hợp nhịp nhàng hoạt động của lưỡi và động tác nuốt. Khi được đút một thìa thức ăn, bé sẽ đưa đẩy phần thức ăn này vòng quanh trong miệng. Một phần thức ăn được đẩy về phía họng và nuốt xuống dưới, một phần được đưa vào khoang giữa má và lợi, một phần bị đẩy ra môi và tràn ra ngoài cằm. Phần lớn trẻ 4-6 tháng tuổi đã có khả năng chuyển thức ăn từ phía trước miệng tới phía sau miệng, khiến thức ăn không còn chạy quẩn quanh trong miệng hoặc rơi ra ngoài nữa.
4. Trẻ chưa thể ngồi vững
Nếu tập cho con ăn dặm khi bé chưa đủ cứng cáp, mẹ buộc phải bế bé trong lòng như khi cho bú. Điều này có thể khiến bé nhầm tưởng sẽ được ti mẹ, và khi không đạt điều mình mong đơi bé có thể từ chối thức ăn. Việc ăn dặm đòi hỏi bé phải ngồi thẳng người trên một chiếc ghế cao. Đa số các bé chỉ đạt kỹ năng này khi được 5-7 tháng tuổi.
5. Khả năng nhai chưa tốt
Răng thường xuất hiện vào tháng thứ 6, đây là một bằng chứng cho thấy trẻ nhỏ phù hợp với việc bú mút hơn việc nhau. Giữa tháng thứ 4 và tháng thứ 6, trước khi chiếc răng đầu tiên nhú lên, bé thường chảy nhiều nước dãi. Nước dãi này chứa nhiều enzym cần thiết cho tiêu hóa thức ăn đặc.
Các dấu hiện nhận biết bé đã sẵn sàng ăn dặm
Đã có thời, chế độ ăn của trẻ được quy định chặt chẽ cả về lịch trình và khẩu phần ăn. Khoa học ngày nay hiểu rằng mỗi trẻ phát triển theo tốc độ riêng. Cha mẹ không nên áp dụng một cách cứng nhắc các mốc thời gian được khuyến cáo. Hãy lắng nghe cơ thể bé, rồi bạn sẽ tìm ra giải pháp tốt nhất cho con.
Sau đây là một số dấu hiệu giúp cha mẹ nhận biết bé đã sẵn sàng ăn dặm:
Dấu hiệu rõ ràng nhất là bé vẫn có vẻ đói sau khi đã bú mẹ đủ 8-10 cữ bú hay 1.000 ml sữa công thức mỗi ngày (tùy theo trọng lượng cơ thể, lượng sữa bé cần ước tính là 120 -150 ml/kg cân nặng/24h; khi bắt đầu cho ăn dặm thì giảm dần lượng sữa này). Bé háo hức ngả người về phía trước hay làm om sòm khi thấy người lớn ăn
Bé biết giữ đầu thẳng và có thể tự ngồi.
Biết đưa môi dưới về phía trước để nhận thức ăn từ thìa.
Lưỡi không còn phản xạ tự động đẩy vật lạ.
Bé thể hiện sự thích thú đối với thức ăn bạn đưa.
Cân nặng tối thiểu là 6.000g và thường là gấp đôi so với khi sinh.
Đối với đa số trẻ, những điều này xảy ra vào khoảng giữa tháng thứ 4 và tháng thứ 6. Lúc này, phần lớn các bé có nhu cầu năng lượng cao hơn do hoạt động thể chất tăng đột ngột. Trước đó bé nằm yên, chỉ ngọ nguậy chân tay, chơi đùa với các đồ chơi được treo trước mặt. Rồi đột nhiên, bé bắt đầu lật người, trườn bò, tìm cách đứng dậy. Chính sự gia tăng đột biến các hoạt động thể chất này góp phần thúc đẩy nhu cầu ăn dặm. Vào thời điểm này, nguồn dự trữ sắt bé mang theo khi mới sinh cũng dần cạn kiệt. Các thực phẩm ăn dặm sẽ giúp bổ sung năng lượng và lượng sắt cần thiết.
Trong một vài ngày đầu, đa phần thức ăn sẽ bị bôi lên miệng lên mặt của bé. Những bức ảnh hay đoạn video khi lại thời khắc ‘lịch sử’ này sẽ là tài liệu vô giá về sau! Nếu bé hoàn toàn thờ ơ thậm chí là đau khổ vì thức ăn đặc, bạn nên quay lại cho bé bú mẹ hoặc bú bình trong 1-2 tuần rồi mới thử lại. Chẳng có gì vội vàng nếu bé chưa được 6 tháng tuổi.
Tác hại của việc ăn dặm quá sớm hoặc quá muộn
Cho trẻ ăn dặm quá sớm (trước 4 tháng tuổi) có thể làm tăng nguy cơ sặc thức ăn gây ngạt. Tùy theo chất lượng bữa ăn bổ sung, một số trẻ nhận được quá nhiều năng lượng và chất dinh dưỡng có thể dẫn tới béo phì, trong khi một số khác lại nhận được quá ít năng lượng và chất dinh dưỡng, gây suy dinh dưỡng. Các nghiên cứu chỉ ra rằng ăn dặm từ trước 4 tháng không giúp trẻ ngủ ngon hơn về đêm.
Cho trẻ ăn dặm quá muộn (sau 6 tháng tuổi) có thể làm giảm tốc độ tăng trưởng của bé vì sữa mẹ và sữa công thức không còn đủ khả năng bù đắp nhu cầu năng lượng rất lớn lúc này. Trẻ bú mẹ hoàn toàn có thể bị thiếu sắt. Hơn nữa việc trì hoãn ăn dặm tới sau 6 tháng có thể khiến trẻ phản kháng, không chịu ăn thức ăn đặc. Sự trì hoãn này cũng không giúp làm giảm nguy cơ mắc các bệnh dị ứng như hen, chàm, dị ứng thức ăn.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Thực phẩm ăn dặm cho bé
Trong y học hiện đại, việc chẩn đoán chính xác bệnh lý ngay từ giai đoạn đầu là yếu tố sống còn. Để làm được điều này, các bác sĩ thường nhờ đến sự trợ giúp của một công cụ chẩn đoán hình ảnh tiên tiến bậc nhất hiện nay: Chụp cộng hưởng từ, hay còn gọi là MRI. Dù thuật ngữ này khá quen thuộc, nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguyên lý hoạt động cũng như những gì cơ thể sẽ trải qua trong phòng chụp.
Giấc ngủ là một yếu tố quan trọng đối với sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta. Không chỉ giúp cơ thể phục hồi năng lượng, chất lượng và thời lượng giấc ngủ còn ảnh hưởng đến nhiều cơ quan trong cơ thể.
Tai nạn đuối nước thường có xu hướng gia tăng vào mùa hè, khi mọi người tìm đến các ao, hồ, sông, suối hay bãi biển để giải nhiệt, nguy hiểm hay gặp nhất là trẻ em. Khi không may xảy ra sự cố, việc sơ cứu kịp thời và đúng cách ngay trong "khoảng thời gian vàng" từ 1-4 phút đầu tiên là yếu tố cốt lõi giúp nạn nhân có cơ hội bình phục tốt hơn, đồng thời hạn chế tối đa biến chứng. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ hướng dẫn chi tiết dựa trên các nguyên tắc y khoa chuẩn, vai trò của hô hấp nhân tạo và các biện pháp hỗ trợ.
Các loại thức uống tăng cường sức khỏe, như loại làm từ gừng và nghệ, là những thức uống nhỏ đậm đặc giúp tăng cường năng lượng, cải thiện hệ miễn dịch và hỗ trợ tiêu hóa. Chúng chứa nhiều vitamin và khoáng chất và có thể được pha chế tại nhà, nhưng cần nhiều nghiên cứu hơn nữa về lợi ích của chúng.
Lợi ích của việc giữ đủ nước cho cơ thể đối với sức khỏe và tinh thần được biết đến rộng rãi. Nhiệt độ nước cũng có tác động lớn, đặc biệt là uống nước nóng có thêm lợi ích là tăng cường tuần hoàn máu và hỗ trợ tiêu hóa. Để tối đa hóa những lợi ích này, có những thời điểm nhất định trong ngày nên uống nước nóng (50-70 độ C) để bổ sung nước.
Tắm nước đá có thể giúp giảm đau cơ, cải thiện quá trình phục hồi sau khi tập luyện bằng cách giảm viêm và sưng, cải thiện sức khỏe chung. Tắm nước đá có nhiều cách, hiệu quả cũng khác nhau tùy mục tiêu mong muốn, khuyến cáo chung nên ngâm mình trong nước đá khoảng 10 đến 15 phút để đạt được những lợi ích tiềm năng.
Cứ mỗi dịp hè đến với cái nắng oi ả, cũng là thời điểm số vụ tai nạn sông nước gia tăng đáng báo động, trở thành mối hiểm họa khôn lường cho cả người lớn và trẻ em. Để bảo vệ sự an toàn cho cộng đồng và giảm thiểu những thương tâm không đáng có, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ những thông tin cần thiết và khoa học dưới đây, giúp bạn chủ động trang bị các giải pháp bảo vệ toàn diện và bảo vệ bản thân cùng gia đình một cách hiệu quả nhất.
Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí y khoa quốc tế cho thấy, việc bổ sung vitamin D3 liều cao trong thời kỳ mang thai có thể mang lại lợi ích vượt trội cho sự phát triển hệ thần kinh của trẻ.