Hiệu quả của Probiotics lên sức khỏe con người
Hàng nghìn năm về trước, con người đã biết tiêu thụ các các sản phẩm sữa lên men chứa vi sinh vật sống có lợi. Quá trình sản xuất sữa lên men được ghi trong “Book of Genesis” của Hippocrates và các nhà khoa học khác cũng chỉ định sử dụng sữa lên men để chữa trị rối loạn ruột và dạ dày (Oberman, 1985). Năm 1907, nhà khoa học Nga, Eli Metchnikoff – người đã từng đoạt Giải Nobel trong bài thảo luận xuất sắc "Việc kéo dài cuộc sống" (‘The prolongation of life’) cho rằng khi được tiêu thụ, các vi khuẩn lên men ảnh hưởng tốt đến hệ vi sinh vật của ruột kết: giảm hoạt động của vi khuẩn độc hại, dẫn đến ngăn cản lão hóa và kéo dài tuổi thọ. Năm 1930, nhà khoa học Nhật Minoru Shirota phân lập được các vi khuẩn lactic. Cùng năm đó, các nhà nghiên cứu Hoa Kỳ đã chứng minh Lactobacillus acidophilus có khả năng làm giảm bệnh táo bón. Các nhà khoa học đại học Havard phát hiện ra các vi khuẩn đường ruột đóng vai trò quyết định trong quá trình tiêu hóa, giúp tiêu hóa thức ăn, cung cấp một số vitamin và các chất dinh dưỡng khác nhau mà cơ thể vật chủ không tự sản xuất được. Các sản phẩm probiotic mang tính thương mại xuất hiện từ 1935 và tăng mạnh từ thập niên 80 của thế kỷ trước. Hiện nay Tổ chức Thực phẩm và Nông nghiệp Liên hợp quốc (FAO), Tổ chức Y tế thế giới (WHO) và các tổ chức chuyên ngành đã ghi nhận bổ sung probiotics có hiệu quả tích cực trong điều trị tiêu chảy liên quan đến sử dụng kháng sinh, trong điều trị các bệnh lý dị ứng, viêm ruột hoại tử, bệnh lý viêm tại ruột, cải thiện tình trạng dinh dưỡng và tăng cường khả năng miễn dịch. Một số hiệu quả khác được công bố ở nhiều nghiên cứu gần đây.
Tuy nhiên, từ 2010 đến nay các chuyên gia hàng đầu thế giới vẫn tiếp tục thảo luận về hiệu quả của các chủng Probiotics, liều lượng sử dụng, hiệu quả thực tế trên dự phòng, hiệu quả trên các đối tượng cụ thể và cấp độ mức chứng cứ của các nghiên cứu. Đây là vấn đề do European Food Safety Authority và một số tổ chức khác đặt ra với quan điểm xác định cụ thể các hiệu quả Probiotics dựa trên y học chứng cứ (Evidence-Based Medicine) được nhóm Gordon Guyatt, đại học McMaster.khởi xướng.
Vậy hiệu quả của Probiotics cho đến nay đã được giới khoa học thảo luận và xác định với những bằng chứng cụ thể như thế nào là một chủ đề cần được làm rõ.
Probiotics là những vi sinh vật như vi khuẩn hay nấm men mà có thể bổ sung vào thực phẩm với mục đích điều chỉnh quần thể sinh vật đường ruột của sinh vật chủ (Parker, 1974). Probiotics cũng có những ảnh hưởng có lợi trên sức khỏe của sinh vật chủ (Fuller, 1989). Năm 1992 Havenaar đã định nghĩa về probiotics là sự nuôi cấy riêng lẻ hay hỗn hợp các vi sinh vật sống mà có ảnh hưởng có lợi cho sinh vật chủ bằng cách cải thiện những đặc tính của vi sinh vật bản địa. Theo WHO/FAO 2001, probiotics là những vi sinh vật sống khi được đưa vào cơ thể một lượng đầy đủ sẽ có lợi về sức khỏe cho người sử dụng. Hầu hết các chủng probiotics được sử dụng trong sản xuất thực phẩm thuộc nhóm vi khuẩn acid lactic như Lactobacillus và Bifidobacteria, đều có thể được thêm vào sản phẩm lên men sữa, góp một phần trong việc hình thành sản phẩm, hoặc được bổ sung dưới dạng bột đông khô. Các vi khuẩn này là phần quan trọng của hệ thống miễn dịch, kích thích sự phát triển và hoạt động của hệ thống miễn dịch và giúp ngăn ngừa nhiễm khuẩn. Trong ruột, chúng tham gia quá trình tiêu hóa các thành phần thức ăn mà cơ thể con người không tiêu hóa được. Probiotic được tìm thấy trong thực phẩm và cả các chất bổ sung (có thể là tự nhiên hoặc được thêm vào trong giai đoạn chế biến). Các thực phẩm này gồm sữa chua, đồ uống từ sữa chua, sữa lên men và chưa lên men, đậu tương lên men, đồ uống đậu nành và một số nước hoa quả. FAO/WHO cho rằng tiêu chuẩn quan trọng nhất để chọn chủng probiotics sử dụng dưới dạng thực phẩm là chúng phải có khả năng sống sót qua đường tiêu hóa và có khả năng phát triển trong ruột. Những yêu cầu đặt ra cho một probiotics dùng cho sản xuất thực phẩm chức năng gồm: Phải tồn tại khi đến ruột non, nghĩa là phải kháng được axít dịch vị dạ dày và dịch vị mật để đến ruột non mà sống và phát triển được trong ruột để hỗ trợ thực hiện các chức năng tiêu hóa và miễn dịch; phải được chứng minh là an toàn khi sử dụng, không sinh độc tính và không có tác dụng phụ; Phải có mùi vị dễ chịu hoặc không mùi, không vị; Phải có hiệu quả có lợi và đáng tin cậy; Phải được chứng minh một cách khoa học bằng các dữ liệu lâm sàng, thử nghiệm trên động vật và trên người.
Về phân loại, Probiotics được phân loại tùy theo vai trò của các vi khuẩn trong đường ruột sẽ đem lại các lợi ích khác nhau cho sức khỏe, gồm Lactobacillus, Bifidobacteria, Saccharomyces boulardii, Streptococcus thermophilus, Enterococcus faecium, Leuconostoc.
Có thể tóm tắt các vai trò của Probiotics đã được quốc tế ghi nhận như sau:
Probiotics có vai trò kháng khuẩn, cả khuẩn Gram (+) và Gram (-), cạnh tranh với các nguồn bệnh bám vào ruột và cạnh tranh dinh dưỡng cần thiết cho sự sống sót của mầm bệnh;
Probiotics tác động trên mô biểu bì ruột tăng gắn kết các tế bào biểu mô, giảm kích thích bài tiết và những hậu quả do bị viêm nhiễm vi khuẩn, tạo ra các phân tử phòng vệ;
Probiotics giúp tăng cường miễn dịch, giảm dị ứng và cải thiện hệ vi sinh vật đường ruột, ngăn ngừa tiêu chảy và táo bón;
Probiotics tác động đến vi khuẩn đường ruột tạo nên sự cân bằng hệ sinh thái và điều hòa trao đổi chất, giảm pH của bộ phận tiêu hóa, gây cản trở tiết enzyme của vi sinh vật đường ruột, tăng dung nạp lactose, làm tăng vi khuẩn có lợi và giảm vi khuẩn gây hại.
Ngoài ra, probiotics còn có vai trò chống dị ứng, cung cấp cho cơ thể nhiều vi chất quan trọng (folic acid, niacin, riboflavin, vitamin B6 và B12) , giảm nguy cơ ung thư ruột kết và bàng quang, khử chất độc gây ung thư, làm chậm phát triển u bướu, giảm Cholesterol, giảm huyết áp, giúp nhanh bình phục sau tiêu chảy và dùng kháng sinh.
Bên cạnh đó, Các loài thuộc nhóm Lactobacillus được ghi nhận trong một số nghiên cứu có tác dụng chống ung thư, loại bỏ độc tố, làm giảm cholesterol máu, chống oxy hóa, có khả năng diệt vi khuẩn và virus, chống nhiễm Helicobacter pylori, phòng chống biến chứng trong các bệnh đường tiết niệu, điều hòa miễn dịch, chống tiêu chảy, tác động tốt lên bệnh tiểu đường và viêm khớp.
Riêng Lactobacillus casei 431 có hiệu quả phòng và điều trị tiêu chảy cấp và mãn tính, tiêu chảy do sử dụng kháng sinh (tốt nhất khi kết hợp với L.acidophilus hay Saccharomyces boulardii); Cải thiện dung nạp lactose; Phòng ngừa viêm ruột hoại tử ở trẻ sơ sinh (kết hợp với B.breve); Giảm triệu chứng và tiến triển các bệnh nhiễm trùng tiêu hóa (do vi khuẩn Salmonella, S.aureus…); Giảm triệu chứng và thời gian nhiễm trùng hô hấp (do Staphylococcus pneumoniae…), nhiễm Candida albicans và cúm…; Hỗ trợ hệ miễn dịch đường ruột, tăng sức đề kháng cơ thể; Tăng khả năng miễn dịch trên đối tượng SDD; Giảm dị ứng; Kìm hãm sự phát triển của u bướu. Tuy nhiên, cho đến nay chưa có nhiều bằng chứng về hiệu quả L.casei 431 lên tăng trưởng cân nặng và chiều cao trẻ em.
Có thể thấy rằng, bổ sung Probiotics trong thực phẩm đã đem lại các nhiều kết quả được ghi nhận. Đến thời điểm này, giới khoa học vẫn đang tiếp tục nghiên cứu để ứng dụng rộng rãi các sản phẩm bổ sung probiotics trong đời sống, vấn đề về liều lượng bổ sung để đạt được hiệu quả tối ưu trong mỗi sản phẩm cũng đang được tiếp tục nghiên cứu.
Tham khảo thêm bài viết: Probiotics (lợi khuẩn) làm giảm nguy cơ mắc tiểu đường type 1 ở trẻ em
Bệnh máu khó đông (Hemophilia) là một rối loạn di truyền khiến cơ thể không có khả năng cầm máu hiệu quả do thiếu hụt yếu tố đông máu. Sự thiếu hiểu biết về căn bệnh này thường dẫn đến tâm lý lo âu và những lầm tưởng không đáng có, gây rào cản trong việc phát hiện và hỗ trợ người bệnh. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin chính xác về căn bệnh này. Việc hiểu đúng bản chất khoa học không chỉ giúp bệnh nhân chủ động quản lý sức khỏe mà còn tạo môi trường thấu hiểu, giúp họ tự tin hòa nhập xã hội.
Ăn nấm mỗi ngày trong một tuần có thể mang lại lợi ích rõ rệt cho tiêu hóa, miễn dịch và năng lượng...
Thú cưng mang lại niềm vui và lợi ích tinh thần to lớn cho chúng ta. Tuy nhiên, chó, mèo và các vật nuôi khác cũng có thể mang theo mầm bệnh nguy hiểm. Dưới góc độ y tế, những căn bệnh này được gọi là bệnh lây truyền từ động vật sang người. Việc hiểu rõ các nguy cơ này không phải để xa lánh thú cưng, mà để chúng ta có biện pháp bảo vệ sức khỏe cho cả gia đình và vật nuôi.
Vitamin và khoáng chất đóng vai trò thiết yếu với mọi hoạt động sống của cơ thể. Hiểu rõ nhu cầu, công dụng và các nguồn thực phẩm tự nhiên giàu các vi chất, giúp xây dựng chế độ ăn cân đối, khoa học.
Ung thư tiền liệt tuyến là một trong những bệnh lý thường gặp ở nam giới cao tuổi trên toàn cầu. Mặc dù tỉ lệ giống sót sau 5 năm vẫn tương đối cao, nhưng ung thư tiền liệt tuyến vẫn là nguyên nhân gây tử vong thứ hai tại các nước Tây. Bài viết dưới đây sẽ cung cấp cái nhìn toàn diện về cơ chế bệnh, các yếu tố nguy cơ và môi trường phát triển bệnh, những tiến bộ của y học trong chẩn đoán và điều trị bệnh, cũng như vấn đề giám sát chủ động.
Chỉ cần đi bộ 1 km mỗi ngày, tương đương 10–15 phút, có thể mang lại nhiều lợi ích cho tim mạch, tinh thần và cân nặng. Đây là thói quen đơn giản, dễ duy trì, phù hợp với người bận rộn.
Các dấu hiệu của cơn đau tim có thể khác nhau ở phụ nữ so với nam giới, ngoài các dấu hiệu chung như đau ngực, mệt mỏi, rối loạn tiêu hóa...
Sỏi thận có tỷ lệ tái phát cao nhưng hoàn toàn có thể phòng ngừa nếu điều chỉnh lối sống và chế độ ăn uống hợp lý. Uống đủ nước, ăn nhạt, kiểm soát dinh dưỡng là những biện pháp quan trọng giúp bảo vệ thận lâu dài.