Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Động kinh và cách xử trí

Người bị chứng động kinh khi có ít nhất từ hai cơn động kinh trở lên, nếu chỉ có một cơn duy nhất thì chưa gọi là động kinh.

Bác sĩ Lê Văn Tuấn, Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM cho biết cơn động kinh được định nghĩa là tình trạng bệnh lý của não, đặc trưng bởi sự phóng lực quá mức, đồng bộ và nhất thời của một nhóm các neuron trong não, biểu hiện bằng các triệu chứng tương ứng với vùng não bị kích thích.

Chứng động kinh được biểu hiện bởi các cơn động kinh tái phát. Thông thường, một người được chẩn đoán là động kinh khi có ít nhất từ hai cơn động kinh trở lên, nếu họ chỉ có một cơn duy nhất thì chưa thể gọi là động kinh.

Động kinh có thể xảy ra ở mọi lứa tuổi, chiếm tỷ lệ khoảng 1% dân số. Khoảng 50% những trường hợp động kinh mới xảy ra ở trẻ nhỏ và thiếu niên, với tỷ lệ cao nhất trong vài tháng đầu sau sinh. Nhiều người bị động kinh ở tuổi nhỏ và thiếu niên, sau đó các cơn động kinh có thể giảm khi họ đến tuổi trưởng thành. Tỷ lệ động kinh cũng tăng ở người lớn tuổi.

Một số nguyên nhân khác có thể gây ra các cơn động kinh như sốt cao co giật ở trẻ nhỏ, bệnh nhân ngưng một số thuốc đang dùng, ngộ độc, phản ứng dị ứng, nhiễm trùng, rối loạn điện giải, hạ đường huyết... Những nguyên nhân này chỉ nhất thời và không được xem là động kinh. Một số bệnh lý như tai biến mạch máu não hay đau nửa đầu có thể nhầm lẫn với động kinh do các triệu chứng tương tự như tê, yếu nửa người, các triệu chứng thị giác như nhìn mờ, mù tạm thời...

Bác sĩ Tuấn cho biết, tùy vào loại động kinh mà bác sĩ sẽ kê đơn thuốc cho bệnh nhân. Do đó, quan trọng nhất là phải phân biệt được cơn động kinh thuộc loại nào.

Các cơn động kinh cục bộ: Xảy ra khi có quá nhiều hoạt động điện khu trú ở một vùng trong não. 

Cơn động kinh cục bộ đơn giản: Người bệnh có thể có cảm giác lạ, khó mô tả hay bất thường như co giật một phần của cơ thể, thị giác hay khứu giác, cảm giác lo lắng sợ sệt, khó chịu ở vùng dạ dày, chóng mặt.

Cơn động kinh cục bộ phức tạp: Người bệnh không biết được cơn động kinh đang xảy ra, trông họ lú lẫn, có thể có các hành vi vô nghĩa như đi qua đi lại, xoay đầu, xoa tay... Họ không thể nhớ được các hành vi này sau cơn động kinh.

Các cơn động kinh toàn thể: Xảy ra khi hoạt động điện trong não quá nhiều ảnh hưởng đến toàn bộ não. Có hai dạng cơn toàn thể thường gặp nhất là cơn vắng ý thức và cơn co cứng - co giật toàn thể.

Cơn vắng ý thức: Người bệnh nhìn chằm chằm, mắt có thể đảo lên trên biểu hiện bởi tình trạng mất ý thức trong khoảng 5 - 15 giây. Khi cơn động kinh chấm dứt thì người bệnh không còn nhớ những gì đã xảy ra. Cơn vắng ý thức thường xảy ra ở trẻ em và biến mất ở tuổi thiếu niên. Tình trạng này hiếm khi gặp ở người lớn.

Cơn co cứng - co giật toàn thể: Người bệnh thường phát ra tiếng kêu ngắn, mất ý thức và ngã xuống sàn (tiếng kêu này không phải do đau). Các cơ sẽ co cứng và tay chân sẽ co giật. Người bệnh có thể đái dầm.

Sau cơn động kinh, người bệnh có thể tỉnh lại ngay hoặc có thể cảm thấy mệt mỏi, lú lẫn hay rối loạn định hướng, kéo dài trong vài phút, vài giờ hoặc thậm chí vài ngày, người bệnh mới từ từ tỉnh lại.

Nếu cơn động kinh kéo dài hơn 5 phút hay có nhiều cơn động kinh liên tiếp và người bệnh không hồi phục đầy đủ giữa các cơn động kinh thì đây là một tình huống cấp cứu, cần được xử trí ngay nếu không sẽ nguy hiểm đến tính mạng hoặc để lại di chứng lâu dài.

Khoảng 60% các trường hợp không biết được nguyên nhân của động kinh mặc dù người bệnh đã xét nghiệm, chụp hình não (chụp cắt lớp hay chụp cộng hưởng từ). Những trường hợp này được gọi là động kinh vô căn. Các trường hợp còn lại có thể do các nguyên nhân cụ thể như tổn thương não của thai nhi, chấn thương lúc sinh (do thiếu oxygen), ngộ độc, nhiễm trùng hệ thần kinh trung ương, chấn thương đầu, u não, tai biến mạch máu não... Đa số động kinh không có tính di truyền. Tuy nhiên, một số người bệnh bị động kinh có khuynh hướng di truyền.

Bác sĩ Nguyễn Trần Nam, Bệnh viện Nhi đồng Thành phố, cho biết khi xử trí người bệnh động kinh phải giữ bình tĩnh, để người bệnh tránh xa lửa, vật nhọn, hay chỗ dễ té để tránh chấn thương. Ghi lại khoảng thời gian bị co giật. Khi hết co giật, để người bệnh nằm nghiêng một bên nhằm tránh nguy cơ tắc đường thở do dị vật như răng giả, đàm nhớt, chất ói từ dạ dày. Sau cơn co giật người bệnh thường mất ý thức, cần ở cạnh người bệnh cho đến khi họ tỉnh hẳn. Không nên để bất cứ vật gì như khăn, muỗng, vắt chanh... vào miệng người bệnh. Không giữ chặt người bệnh khi họ đang co giật.

Người bị động kinh có thể gặp một số vấn đề về tâm lý và xã hội. Họ thường được chăm sóc quá kỹ hay bị những hạn chế không cần thiết trong sinh hoạt hàng ngày. Ngoài ra, họ còn có thể còn gặp một số vấn đề cá nhân khác như sự giận dữ, chán nản và trầm cảm. Tuy nhiên, nếu được chăm sóc và điều trị tốt, nhiều người bệnh vẫn có thể có cuộc sống, sinh hoạt và công việc như bình thường.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Bệnh động kinh ảnh hưởng đến cơ thể như thế nào

Bác sĩ Lê Văn Tuấn, Khoa Thần Kinh, Bệnh viện Đại học Y dược TP HCM - Theo Vnexpress
Bình luận
Tin mới
  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

Xem thêm