Tuy nhiên, nhiều người bệnh Parkinson lo lắng kỹ thuật kích thích não sâu có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ. Để tìm hiểu vấn đề này, các nhà khoa học từ Đại học Grenoble Alpes (Pháp) đã tiến hành nghiên cứu với sự tham gia của 175 người bệnh Parkinson có độ tuổi trung bình là 56.

Những người tham gia nghiên cứu đều đã mắc bệnh Parkinson trong một khoảng thời gian dài (trung bình là 12 năm) trước khi thực hiện kích thích não sâu. Các nhà khoa học sau đó sẽ thống kê số người bệnh Parkinson bị sa sút trí tuệ sau khoảng thời gian 1 năm, 5 năm và 10 năm.
Kết quả nghiên cứu cho thấy, sau 1 năm, có 4 người (tương đương với 2,3%) bị sa sút trí tuệ. Sau 5 năm, có 12/142 người (tương đương với 8,5%) bị sa sút trí tuệ. Sau 10 năm, có 31/104 người (tương đương với 29,8%) được chẩn đoán bị sa sút trí tuệ. Như vậy, trung bình mỗi năm sẽ có khoảng 3,65% người bệnh Parkinson bị bị sa sút trí tuệ sau khi thực hiện kích thích não sâu.
“Trên thực tế, tỷ lệ người bệnh Parkinson bị sa sút trí tuệ sau khi thực hiện kích thích não sâu thậm chí còn thấp hơn so với những người bệnh Parkinson dùng thuốc để kiểm soát triệu chứng (với tỷ lệ từ 5 - 10% trong một số nghiên cứu)”, bác sỹ Elena Moro, một tác giả nghiên cứu cho biết.
Tuy nhiên, bác sỹ Elena Moro cho rằng độ tuổi trung bình của những người tham gia nghiên cứu khá trẻ, cũng như việc có nhiều người không thể hoàn thành nghiên cứu… có thể ảnh hưởng phần nào tới kết quả.
Các nhà khoa học cũng đã tính tới các yếu tố liên quan có thể làm tăng nguy cơ sa sút trí tuệ khi thực hiện kỹ thuật kích thích não sâu. Theo đó, nam giới, người cao tuổi, người bị ảo giác, những người chỉ đạt kết quả thấp trong bài kiểm tra tư duy trước khi phẫu thuật, cũng như những người bị xuất huyết não trong khi phẫu thuật… sẽ có nguy cơ bị sa sút trí tuệ cao hơn.
“Biết được những yếu tố này sẽ giúp các bác sỹ xác định những đối tượng phù hợp hơn với kỹ thuật kích thích não sâu, cũng như những người có nguy cơ cao bị sa sút trí tuệ để có hướng phòng ngừa kịp thời”, bác sỹ Elena Moro cho biết.
Tham khảo thêm thông tin bài viết: 10 Sự thật về bệnh Parkinson
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.