Rối loạn mất tập trung và tăng động (ADHD = attension deficid and hyperactivity disorder) có biểu hiện: suy nghĩ cứ lướt qua, không đọng lại trong bộ nhớ (thiếu tập trung), liên tục chuyển từ hoạt động dang dở này sang hoạt động dang dở khác (tăng động). Ví dụ: từ nhà, trẻ có ý nghĩ xuống sân chơi, trên đường đi không nhớ ý nghĩ đó, xuất hiện ý nghĩ mới nên rẽ vào một phòng nào đó, đến đó lại không nhớ để làm gì, xuất hiện ý nghĩ mới khác, lại rẽ vào lối khác nữa. Tương tự thế, trẻ không nhớ để hoàn thành điều bố mẹ dặn, học tập sa sút (chứ không phải là kém trí tuệ); thiếu khả năng suy nghĩ khi hành động (chạy xổ ra đường nhặt bóng mà không biết sẽ bị vướng xe cộ); có tính khí thay đổi thất thường, dễ nổi sung, cáu gắt, bực tức, khóc lóc vô lối.
Trước đây, các nhà nghiên cứu giả định: não của các trẻ này ở trong trạng thái kích thích nhưng cường độ kích thích này chưa đến ngưỡng cần thiết thì lại chuyển qua sự kích thích khác cũng ở mức như vậy và liền đó sinh ra mất tập trung và tăng động.
Nghiên cứu công bố trên tạp chí Lancet cho biết: não bộ trẻ mắc chứng ADHD có sự rối loạn phát triển thần kinh, trong đó có các đoạn DNA bị mất hoặc nhân đôi (gọi là biến thể số lượng bản sao - CNVs) và có mối liên quan với các biến thể gen trước đây được xác định là gây ra bệnh tự kỷ, tâm thần phân liệt. Phân tích trên 1.000 mẫu trong 366 trẻ được chẩn đoán mắc chứng ADHD, nhóm nghiên cứu Trường Đại học Cardiff thấy: não bộ của chúng có CNVs cao gấp đôi so với não của trẻ không mắc chứng ADHD. Cũng thấy có sự chồng chéo giữa khu vực có nhiều CNVs và khu vực có biến thể gen gây ra bệnh tự kỷ, tâm thần phân liệt, chủ yếu trên nhiễm sắc thể thứ 16.
Việc dùng thuốc và không dùng thuốc
Vì giả định rằng, ADHD là do kích thích liên tục nhưng cường độ ở dưới ngưỡng cần thiết nên một số nước cho dùng các thuốc kích thích tâm thần để đưa các kích thích đến ngưỡng cần thiết nhằm giúp cho trẻ tập trung, không bị tăng động. Thật ra, trẻ mắc chứng ADHD bị nhà trường kỳ thị cho là không vâng lời thậm chí là mất dạy, phá phách; đôi khi phụ huynh cũng xuôi chiều theo nhận định này nên ép chúng dùng thuốc. Khi dùng thuốc thấy thu được một số lợi ích nhưng chưa có thử nghiệm nào chứng minh là có hiệu quả, đặc biệt chưa có thử nghiệm nào chứng minh an toàn khi dùng lâu dài. Thuốc một số nước cho dùng như: amphetamin, methylphedinat (MPH), atomoxetin cũng ở trong tình trạng chưa được nghiên cứu đầy đủ này. Nguy hại chung nhất đã thấy khi dùng các thuốc này là khi lớn lên trẻ trở thành người thụ động, hoạt động máy móc và không thể sống bình thường nếu thiếu thuốc. Ngoài ra, mỗi thuốc còn có thể gây ra một số tác dụng phụ khác.
Cũng cần nói thêm, một số phụ huynh không cho trẻ khám với các chuyên gia sức khỏe tâm thần mà nhìn nhận sai lầm rằng hành vi thiếu tập trung và tăng động là một trạng thái kích thích và tự ý cho dùng các thuốc ức chế tâm thần thần kinh. Đây lại là cách dùng thuốc sai lầm từ gốc, đưa đến những hậu quả còn nặng nề hơn.
Nguy hiểm của một số thuốc
Amphetamin: là thuốc kích thích tâm thần tăng sự chú ý, tỉnh táo, giảm mệt mỏi. Rất ít nước cho dùng. Tác hại: gây rối loạn tâm thần và các chức năng khác. Lúc đầu tạo ra trạng thái hứng khởi, cuồng nhiệt giả tạo (tăng và bóp méo cảm giác: cảm thấy tự tin, có quyền lực; tỉnh táo, không ngủ, quên ngủ; không kiểm soát được cử động (lắc lư), hoạt động tăng; nói nhiều nhưng không ý thức được lời nói (dễ giao tiếp thân thiện nhưng cũng dễ gây xung đột). Sau đó là tạo ra trạng thái ngộ độc, suy kiệt (đỏ bừng mặt, khô miệng, nhịp tim nhanh, tăng huyết áp, tăng nhịp thở, đổ mồ hôi, tiêu chảy, táo bón, mờ mắt, co giật, miệng khô, ngứa, rối loạn cương). Gây hội chứng lệ thuộc thuốc, nghiện: làm tăng dopamin, norepinephrin, serotonin ở não; đặc biệt loại serotonin giống với serotonin tại vùng bờ rìa và vỏ não, tác động lên thụ thể glutamatergic (kéo dài từ vùng bụng đến vùng trước trán), gây nên sự “tưởng thưởng, lạc thú”; khi ngừng thuốc sinh ra các triệu chứng: lo âu, trầm cảm mệt mỏi, ngủ nhiều, thèm ăn, cáu kỉnh, kích động, có ý nghĩ tự sát.
Methylphedinat (MPH): là thuốc kích thích tâm thần. Khá nhiều nước cho phép dùng, thậm chí là thuốc chủ yếu, phổ biến.
Tác hại: gây hội chứng rối loạn tâm thần. Dùng vài tuần có 0,1%, dùng nhiều tháng hay nhiều năm có 6% bị hội chứng này, bao gồm: tâm thần phân liệt, hoang tưởng, ảo giác (về âm thanh, thị giác), có cảm giác bị người khác hại, lo âu hay quá thoải mái (phởn phơ), dễ nhạy cảm, nhầm lẫn, hoang tưởng kiểu paranoid (cho mình có ưu thế, kích động, hung hăng bạo lực, tự cho mình có tội). Gây hội chứng lệ thuộc thuốc, nghiện bao gồm các hội chứng rối loạn tâm thần (nói trên), trầm cảm, đặc biệt làm cho bệnh tiến triển xấu đi. Ảnh hưởng tới một số chức năng khác: thay đổi huyết áp, đau thắt ngực, rối loạn nhịp tim, tim nhanh, hồi hộp, chóng mặt, buồn ngủ, đổ nhiều mồ hôi, mụn, buồn nôn, tăng cảm (nổi mẩn, mề đay, sốt, tróc da), ban đỏ nhiều dạng (xuất huyết, giảm tiểu cầu, viêm mạch hoại tử), chậm phát triển thể chất, chiều cao. Dùng quá liều sẽ bị cả rối loạn tâm thần, thay đổi chức năng (như trên), nổi bật nhất là bị kích động, thờ ơ, tăng huyết áp, tim nhanh, rối loạn nhịp, động kinh, tăng thân nhiệt (có thể bị hội chứng an thần kinh ác tính). Có thể làm thay đổi cấu trúc và chức năng não: đã thấy trên súc vật thí nghiệm. Nếu trẻ không mắc ADHD mà dùng MPH thì có thể bị điều này mà không biết.
Atomoxetin thuốc mới chỉ nghiên cứu trên thanh thiếu niên, người lớn; chưa nghiên cứu cho trẻ dưới 6 tuổi. Có hoạt tính tái nắm bắt norepinephrin. Một số nước cho dùng trong ADHD, song không phổ biến như MPH.
Tác hại: gây hội chứng rối loạn tâm thần, trầm cảm (nếu dùng kéo dài) thay đổi tâm trạng, mất ngủ, hồi hộp, co giật, gây hưng cảm ở thanh thiếu niên (không có tiền sử trước khi dùng thuốc) đặc biệt gây bất thường trong suy nghĩ, tự gây thương tích, tự sát. Gây lệ thuộc thuốc, nghiện, song nhẹ hơn và ít bị lạm dụng hơn MPH (chưa nghiên cứu đầy đủ). Trên các chức năng khác: tăng huyết áp, tim nhanh, đổ mồ hôi, buồn nôn, khô miệng, táo bón, giảm thèm ăn, khó tiểu tiện, thay đổi tính dục, thay đổi thể trọng, ảnh hưởng đến chức năng gan nhưng có hồi phục. Quá liều sẽ bị buồn ngủ, giãn đồng tử, mờ mắt, tim nhanh, rối loạn tiêu hóa, kích động, tăng động, có hành vi bất thường.
Nước ta chưa cho phép dùng các thuốc trên chữa ADHD nhưng cũng có dùng để chữa các bệnh tâm thần, thần kinh khác. Khi nghi trẻ mắc ADHD cần đưa đến các chuyên gia sức khỏe tâm thần để được tư vấn về cách giáo dục. Cần tránh tự ý dùng các thuốc kích thích tâm thần, thần kinh nói trên chữa ADHD; mặt khác cũng không tự ý dùng các thuốc ức chế tâm thần, thần kinh khác vì sẽ có hại.
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Trị liệu không dùng thuốc cho các rối loạn tăng động giảm chú ý
Điều gì thực sự diễn ra bên trong cơ thể khi chúng ta kiên trì ăn tỏi sống mỗi ngày? Liệu thói quen này có phải là 'chìa khóa' giúp tăng cường miễn dịch và bảo vệ sức khỏe tim mạch không?
Trong những năm gần đây, nhiều người Việt có xu hướng sử dụng các loại thực phẩm và thức uống có nguồn gốc tự nhiên nhằm hỗ trợ sức khỏe và tăng cường sức đề kháng, như mật ong chanh sả, trà gừng mật ong, trà sả, chanh muối, hoặc các loại trà thảo mộc túi lọc và đồ uống thảo mộc đóng chai.
Hệ tiêu hóa, đặc biệt là đường ruột, không chỉ đảm nhận vai trò tiêu hóa thức ăn mà còn là trung tâm của hơn 70% hệ miễn dịch của cơ thể. Được ví như “bộ não thứ hai”, đường ruột đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sức khỏe tổng thể, ảnh hưởng đến cả thể chất và tinh thần. Một hệ vi sinh đường ruột cân bằng giúp cơ thể hấp thụ dinh dưỡng hiệu quả, chống lại các tác nhân gây bệnh và cải thiện chất lượng cuộc sống. Trong bài viết này, chúng ta sẽ khám phá vai trò của sức khỏe đường ruột, mối liên hệ với hệ miễn dịch và các biện pháp thiết thực để duy trì đường ruột khỏe mạnh.
Sự rối loạn của trục gan – ruột – miễn dịch không chỉ ảnh hưởng đến chức năng tiêu hóa mà còn liên quan đến nhiều bệnh mạn tính như gan nhiễm mỡ, đái tháo đường type 2, bệnh tim mạch, rối loạn miễn dịch và một số bệnh thoái hóa thần kinh.
Mỡ nội tạng là loại mỡ ‘ẩn’ nhưng ảnh hưởng lớn đến sức khỏe tim mạch, chuyển hóa và nguy cơ bệnh mạn tính. Tuy nhiên có thể giảm mỡ nội tạng nếu duy trì những thay đổi đúng đắn về ăn uống và lối sống.
Khi nhắc đến ung thư vú, đa số phụ nữ thường nghĩ ngay đến khối u bất thường.
Dưa chuột được xem là thực phẩm có lợi cho người mỡ máu cao nhờ thành phần giàu nước và chất xơ. Tuy nhiên, để hỗ trợ kiểm soát mỡ máu hiệu quả, việc sử dụng dưa chuột đúng cách và hợp lý là điều không phải ai cũng nắm rõ.
Đau lưng đã trở thành vấn đề sức khỏe nghiêm trọng, đặc biệt phổ biến ở dân văn phòng do thói quen ngồi làm việc lâu, dễ dẫn đến thoát vị đĩa đệm. Khi cơn đau kéo dài trên 3 tháng, đó là dấu hiệu của đau lưng mãn tính. Để kiểm soát và cải thiện tình trạng này, điều quan trọng là phải hiểu rõ căn nguyên và áp dụng các giải pháp phù hợp như thay đổi thói quen và thực hiện các bài tập chuyên biệt. Bài viết này sẽ đi sâu phân tích các nguyên nhân cốt gây ra chứng đau lưng mãn tính và các phương pháp khoa học giúp điều trị đau lưng hiệu quả.