Những nghiên cứu khoa học chỉ ra rằng phụ nữ thừa cân/béo phì khi mang thai có thể gây ảnh hưởng xấu đến thai nhi, đặc biệt là khi có béo phì kết hợp với đái tháo đường.
Các nghiên cứu gián tiếp cho thấy béo phì khi mang thai thường kết hợp với một số biến chứng, và nguy cơ bị biến chứng tăng lên theo mức độ béo phì.
Nguyên nhân là do các nội tiết tố thay đổi (tăng nồng độ insulin, androgen và leptin). Thêm vào đó, các mô mỡ là những cơ quan nội tiết chứa các yếu tố tiền viêm (adipokine), các yếu tố này có thể làm rối loạn chức năng của hệ thống biểu mô mạch máu ở người mẹ và rau thai, dẫn đến các biến chứng nặng khi mang thai.
Hầu hết cân nặng của phụ nữ đều tăng khi mang thai do sự phát triển của thai, dịch ối và máu, những cân nặng tăng lên này sẽ bị mất đi khi sinh.
Để biết thừa cân hay béo phì, cần phải kiểm tra chỉ số cơ thể (BMI) trước khi mang thai. Nếu BMI từ 25 đến 29,9 trước khi mang thai nghĩa là bạn bị thừa cân.
Nếu BMI tăng 3 đơn vị (tương đương 9 kg với người có độ cao trung bình) giữa các lần mang thai thì sẽ tăng đáng kể nguy cơ tiền sản giật, tăng huyết áp, đái tháo đường, sinh khó.
Nếu BMI từ 30 trở lên trước khi mang thai thì bạn bị béo phì.
Nếu bị thừa cân hoặc béo phì, nhiều khả năng phụ nữ mang thaisẽ gặp các vấn đề y khoa hơn những phụ nữ mang thai có cân nặng bình thường. Càng thừa cân nhiều thì mức độ rủi ro càng cao. Những rủi ro này bao gồm:
Vô sinh/ khó thụ thai: Không thể có thai, khả năng thụ thai khó khăn do kinh nguyệt không đều, quá trình phóng noãn rối loạn (thường liên quan đến hội chứng buồng trứng có vách).
Khả năng thụ thai giảm là do tăng nồng độ insulin lên chức năng buồng trứng. Hơn nữa, ở phụ nữ béo phì thì việc điều trị hiếm muộn/ vô sinh cũng gặp khó khăn.
Sẩy thai: Xảy ra khá phổ biến là việc em bé chết trong tử cung trước 20 tuần của thai kỳ. Nguyên nhân chủ yếu là do phụ nữ béo phì thường có hội chứng buồng trứng nhiều vách/ kháng insulin, những thay đổi này dẫn đến biến đổi không tốt ở nội mạch tử cung, làm tăng nguy cơ sảy thai.
Tiểu đường thai kỳ: Đây là bệnh mà một số phụ nữ gặp phải trong thời kỳ mang thai. Nguyên nhân là do tăng khả năng kháng insulin ở người béo phì.
Thông thường tình trạng tăng glucose sẽ tự hết sau khi sinh, tuy nhiên, phụ nữ béo phì có đái tháo đường khi mang thai sẽ tăng khả năng mắc đái tháo đường gấp 2 lần so với người bình thường.
Tiền sản giật: Cơ chế mà béo phì làm tăng nguy cơ tiền sản giật chưa thực sự rõ ràng, giả thuyết cho rằng tăng béo phì làm tăng nguy cơ bệnh bim mạch, tăng kháng insulin, tăng mỡ máu, tăng yếu tố viêm.
Nguy cơ sinh non: Trẻ chào đời trước 37 tuần tuổi.
Nguy cơ sinh muộn (kéo dài thời gian mang thai): Mang thai quá tuổi thai.
Sinh nhiều thai: Sinh đôi, sinh ba, do tăng nồng độ hormon FSH.
Nhiễm khuẩn tiết niệu: Thừa cân trước sinh làm tăng nguy cơ nhiễm khuẩn tiết niệu lên 42%.
Phụ nữ mang thai bị béo phì còn dễ bị nhiễm khuẩn sau sinh: như nhiễm khuẩn vết mổ, đường rạch, tử cung; chảy máu sau sinh; tăng nguy cơ tử vong sau sinh so với phụ nữ bình thường ở những người béo phì.
Phụ nữ mang thai bị béo phì không chỉ ảnh hưởng đến sức khỏe của bản thân mà còn ảnh hưởng đến thai nhi và trong quá trình sinh nở.
Dị tật bẩm sinh: Xuất hiện ở thai nhi rất cao, do các bà mẹ béo phì dễ mắc đái tháo đường týp 2, bệnh tim mạch. Các rối loạn chuyển hoá do đái tháo đường làm biến đổi môi trường tử cung, dẫn đến những biến đổi gen của phôi thai.
Những dị tật bẩm sinh bao gồm cả các khuyết tật ống thần kinh, dị tật bẩm sinh của não và cột sống. Những dị tật này rất khó phát hiện ở phụ nữ béo phì bằng siêu âm.
Thai chết lưu: Khi em bé chết trong tử cung trước khi sinh nhưng sau 20 tuần tuổi của thai kỳ.
Các biến chứng trong quá trình sinh: ở những phụ nữ mang thai bị béo phì, tăng cân nhiều thường thai nhi cũng nặng cân, to so với tuổi thai.
Điều này dẫn đến quá trình sinh nở gặp khó khăn nhiều hơn do thai to như đẻ khó do kẹt vai (khi vai thai nhi kẹt phía sau xương mu của mẹ sau khi đã sổ đầu) hay một số biến chứng khác phát sinh trong lúc đau đẻ, cần mổ lấy thai.
Chế độ dinh dưỡng: Điều chỉnh dinh dưỡng cho mỗi bữa ăn được hợp lý, phù hợp với độ tuổi, cân nặng.
Trà thanh nhiệt Dr Thanh là một sản phẩm đồ uống thảo mộc đóng chai sản xuất bằng công nghệ chiết lạnh vô trùng (Aseptic). Ngoài ba vị đã nêu trước đó (Kim ngân hoa, Cúc hoa, La hán quả), sản phẩm còn phối hợp thêm các thảo mộc khác: Hạ khô thảo, Cam thảo, Đản hoa, Tiên thảo...
Đối với người sở hữu làn da khô, cảm giác căng rát và sự xuất hiện của những vảy da nhỏ là nỗi ám ảnh suốt những ngày lạnh. Thay vì phụ thuộc vào các loại mặt nạ giấy đóng gói sẵn, nên sử dụng những nguyên liệu tự nhiên tự chế loại mặt nạ làm dịu làn da.
Nhiều người trong chúng ta dán mắt vào điện thoại, màn hình máy tính và các thiết bị kỹ thuật số khác cả ngày, có thể gây khó chịu và các triệu chứng như khô mắt, nhìn mờ, đau đầu. Những triệu chứng đó thường chỉ là tạm thời, nếu bạn biết chăm sóc đúng cách, đôi mắt có thể vẫn sắc nét và khỏe mạnh; Nhưng điều đó đòi hỏi bạn phải chú ý đến vị trí đặt màn hình, thời điểm nghỉ ngơi và mức độ quan tâm đến các triệu chứng mỏi mắt.
Cam thảo là một trong những thành phần xuất hiện rất phổ biến trong các loại trà thảo mộc, từ trà pha thủ công, trà túi lọc đến đồ uống thảo mộc đóng chai. Cam thảo có tên khoa học là Glycyrrhiza glabra. Tại Việt Nam, thường gặp các dạng dược liệu được gọi chung là cam thảo như cam thảo bắc, cam thảo nam và cam thảo dây, với nguồn gốc và đặc điểm dược tính khác nhau.
Ngủ đủ và ngủ chất lượng đóng vai trò then chốt trong quá trình phục hồi cơ bắp và nâng cao hiệu suất tập luyện. Thời lượng và chất lượng giấc ngủ ảnh hưởng trực tiếp đến sửa chữa mô cơ, giảm đau nhức và phòng ngừa chấn thương ở người tập luyện thường xuyên. Vậy, ngủ bao nhiêu tiếng mỗi ngày để cơ bắp phục hồi?
Hạ đường huyết (lượng đường trong máu thấp) có thể gây dấu hiệu đau đầu. Đau đầu do hạ đường huyết thường gặp như đau âm ỉ ở thái dương. Nếu bạn bị chứng đau nửa đầu, lượng đường trong máu thấp có thể kích hoạt một cơn đau nửa đầu. Bài viết này thảo luận về lý do tại sao lượng đường trong máu thấp có thể gây đau đầu và chứng đau nửa đầu, cũng như cách phòng ngừa và điều trị chúng.
Làn da sáng mịn, khỏe đẹp không chỉ phụ thuộc vào mỹ phẩm hay các xu hướng chăm sóc da bên ngoài. Nhiều nghiên cứu dinh dưỡng cho thấy, chế độ ăn uống hằng ngày có ảnh hưởng trực tiếp đến độ ẩm, đàn hồi và tốc độ lão hóa của làn da.
Thời tiết đang vào mùa đông và trời đã bắt đầu lạnh hơn, những đợt gió mùa ùa về cũng là lúc bạn lo lắng rằng liệu em trẻ đã đủ ấm áp chưa hay mặc bao nhiêu đồ khi cho trẻ đi ngủ là đủ? Đừng lo lắng và đọc bài viết sau đây để giữ ấm cho trẻ đúng cách vào ban đêm trong mùa đông nhé!