Có những loại thuốc kê đơn được gọi là thuốc kháng virus có thể dùng để điều trị bệnh cúm. CDC ( Trung tâm kiểm soát và phòng ngừa dịch bệnh Hoa Kỳ) khuyến nghị điều trị kịp thời cho những người bị nhiễm cúm hay nghi ngờ bị nhiễm cúm và có nguy cơ bị biến chứng nghiêm trọng bởi cúm ví dụ như những người mắc bệnh hen suyễn, tiểu đường (bao gồm cả bệnh tiểu đường thai kì), bệnh tim.
Là thuốc kê đơn ( thuốc viên, dạng lỏng, dạng bột, bột hít, dung dịch tiêm tĩnh mạch) chống lại virus cúm trong cơ thể. Thuốc được bán theo đơn và bạn chỉ có thể mua được khi có đơn thuốc từ bác sỹ. Thuốc kháng virus khác với kháng sinh (loại thuốc chống lại nhiễm trùng do vi khuẩn).
Nếu bạn bị bệnh cúm, thuốc kháng virus là một lựa chọn cho việc điều trị. Đến khám bác sĩ kịp thời nếu bạn có các triệu chứng cúm và nguy cơ cao bị các biến chứng nguy hiểm của cúm. Các dấu hiệu và triệu chứng cúm có thể bao gồm sốt, ho, đau họng, chảy nước mũi hoặc nghẹt mũi, đau nhức cơ thể, nhức đầu, ớn lạnh và mệt mỏi. Bác sĩ có thể chỉ định thuốc kháng virus để điều trị bệnh cúm của bạn
Thuốc kháng virus không thể thay thế cho việc tiêm vaccine ngừa cúm. Mặc dù vắc-xin cúm có thể khác nhau về mức độ hoạt động tác dụng của nó, nhưng vắc-xin cúm là cách tốt nhất để giúp phòng ngừa cúm theo mùa và các biến chứng nguy hiểm. Thuốc kháng virus là hàng rào phòng thủ thứ hai có thể được sử dụng để điều trị cúm nếu bị bệnh (bao gồm cả cúm mùa và virus cúm biến thể ).

Các nghiên cứu cho thấy thuốc kháng virus cúm điều trị có hiệu quả nhất khi được sử dụng bắt đầu trong vòng hai ngày sau khi bị bệnh. Tuy nhiên, bắt đầu sử dụng thuốc sau thời gian này vẫn có thể có lợi, đặc biệt là nếu người bệnh có nguy cơ cao bị biến chứng nguy hiểm bởi cúm hoặc đang ở trong bệnh viện với bệnh nặng hơn. Hãy sử dụng thuốc theo đúng hướng dẫn của bác sỹ.
Các loại thuốc kháng virus được khuyến cáo trong mùa cúm?
Có bốn loại thuốc chống virus được FDA phê chuẩn khuyến cáo để điều trị cúm mùa:
Thời gian điều trị khác nhau tùy thuộc vào thuốc kháng virus quy định. Oseltamivir và zanamivir thường được chỉ định uống 2 lần mỗi ngày trong 5 ngày, mặc dù những người nhập viện vì cúm có thể cần điều trị bằng thuốc kháng virus trong hơn 5 ngày. Peramivir được tiêm tĩnh mạch một lần trong khoảng thời gian từ 15 đến 30 phút. Baloxavir được dùng dưới dạng liều uống duy nhất.
Mỗi loại thuốc có tác dụng phụ khác nhau. Các tác dụng phụ phổ biến nhất đối với Oseltamivirlà buồn nôn và nôn. Zanamivir có thể gây co thắt phế quản và Peramivir có thể gây tiêu chảy. Bác sỹ có thể cung cấp cho bạn thêm thông tin về các loại thuốc này.
Oseltamivir được CDC và Học viện Nhi khoa Hoa Kỳ (AAP) khuyên dùng để điều trị sớm bệnh cúm ở mọi lứa tuổi và điều trị dự phòng ở trẻ từ 3 tháng tuổi trở lên. Zanamivir được khuyên dùng để điều trị cúm sớm ở trẻ từ 7 tuổi trở lên và điều trị dự phòng ở trẻ từ 5 tuổi trở lên. Peramivir được khuyên dùng để điều trị sớm ở những trẻ từ 2 tuổi trở lên. Baloxavir được khuyên dùng để điều trị cúm sớm ở người từ 12 tuổi trở lên. Nếu bác sĩ kê đơn thuốc dạng viên nang Oseltamivir (tamiflu) cho con bạn và trẻ không thể nuốt viên nang thì có thể mở viên thuốc và hòa thêm với đường cho trẻ uống.
Oseltamivir đường uống được khuyến cáo để điều trị cho phụ nữ mang thai bị cúm vì so với các loại thuốc được khuyên dùng khác Oseltamivir an toàn và có lợi trong thai kỳ hơn. Baloxavir không được khuyến cáo cho phụ nữ mang thai hoặc cho con bú, vì không có dữ liệu về hiệu quả hoặc an toàn của thuốc.
Thuốc kháng virus cúm được dùng càng sớm càng tốt để điều trị cho bệnh nhân cúm nhập viện cả những người bị bệnh cúm nhưng không cần nhập viện và những người có nguy cơ cao bị biến chứng nguy hiểm từ cúm tùy thuộc vào tuổi của họ hoặc sức khỏe nếu họ xuất hiện các triệu chứng cúm. Hầu hết những người có tiền sử khỏe mạnh và bị cúm không cần phải điều trị bằng thuốc kháng virus.
Các yếu tố sức khỏe và tuổi tác làm tăng nguy cơ bị biến chứng nguy hiểm do cúm:
Những người có nguy cơ cao bị nhiễm cúm:
Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: 12 mẹo phục hồi nhanh sau cúm
Một nghiên cứu mới đã phát hiện mối liên hệ giữa việc tiêu thụ nhiều các loại quả mọng (như dâu tây, việt quất, mâm xôi...) và quá trình lão hóa lành mạnh hơn. Cùng tìm hiểu về vai trò của quả mọng với quá trình lão hóa ở người cao tuổi qua bài viết sau!
Nhiều đợt khảo sát dư lượng thuốc bảo vệ thực vật trên nông sản tại Mỹ, dựa trên số liệu kiểm nghiệm của cơ quan nông nghiệp nước này, cho thấy có ba loại trái cây quen thuộc thường xuyên đứng đầu danh sách phát hiện nhiều dư lượng hóa chất nông nghiệp bao gồm: dâu tây, nho và táo.
Bệnh tay chân miệng là căn bệnh truyền nhiễm phổ biến ở trẻ em dưới 6 tuổi, gây ra nhiều nỗi lo lắng cho các bậc phụ huynh do tốc độ lây lan nhanh chóng. Bệnh thường có các dấu hiệu điển hình như sốt, loét niêm mạc miệng và nổi các nốt phỏng nước trên lòng bàn tay, bàn chân. Mặc dù đa phần các ca bệnh đều ở thể nhẹ, sự xuất hiện của các chủng vi rút độc lực cao luôn tiềm ẩn nguy cơ gây ra biến chứng nặng nề. Nhằm giúp cha mẹ nâng cao kiến thức bảo vệ sức khỏe cho con em mình, Viện Y học ứng dụng Việt Nam xin chia sẻ những thông tin chi tiết và chuyên sâu dưới đây.
Chu kỳ kinh nguyệt được ví như chiếc gương phản chiếu sức khỏe sinh sản và trạng thái nội tiết của phái đẹp. Tuy nhiên, áp lực từ công việc và gia đình trong nhịp sống hiện đại đang khiến hệ nội tiết phụ nữ rơi vào trạng thái quá tải, gây ra tình trạng rối loạn kinh nguyệt.
Bụng to không phải lúc nào cũng do ăn nhiều, cũng như ăn ít chưa chắc đã là cách ăn phù hợp để kiểm soát cân nặng và giữ vòng eo thon gọn.
Giai đoạn trẻ tròn 6 tháng tuổi và bắt đầu làm quen với những muỗng thức ăn đầu đời luôn là một cột mốc vô cùng đáng nhớ đối với bất kỳ gia đình nào. Bên cạnh niềm vui khi thấy trẻ khám phá những hương vị mới, một trong những nỗi lo lắng lớn nhất của các bậc làm cha mẹ chính là nguy cơ trẻ bị dị ứng.
Cá ngừ là nguồn cung cấp protein và axit béo omega-3 tuyệt vời, những chất dinh dưỡng có liên quan đến huyết áp khỏe mạnh. Tuy nhiên, loại cá ngừ bạn chọn, cách đóng gói và phương pháp chế biến đều ảnh hưởng mạnh mẽ đến tác dụng của nó đối với chế độ ăn uống.
Các nghiên cứu ban đầu đã xác định được mối tương quan tiềm tàng giữa vi nhựa (các mảnh nhựa nhỏ hơn 5 milimét) và các vấn đề sức khỏe như stress oxy hóa, viêm nhiễm và phản ứng miễn dịch bất thường.