Ngộ độc botulism được gây ra bởi vi khuẩn Clostridium botulinum (C. botulinum). Đây là loại vi khuẩn kị khí và sản sinh ra các chất độc thần kinh, tấn công hệ thần kinh của cơ thể người.
Ngộ độc botulism thường có liên quan đến những loại rau quả ngâm hoặc muối, thường là tự làm tại nhà. Tuy các loại thực phẩm đóng hộp công nghiệp cũng có thể bị nhiễm loại vi khuẩn gây ngộ độc botulism, nhưng ngày nay điều này gần như rất hiếm. Ngoài ra, cũng còn nhiều con đường khác có thể gây ngộ độc botulism ngoài con đường thực phẩm.

Các loại ngộ độc botulism
Một cách để đưa chất độc vào cơ thể chính là qua thực phẩm bị nhiễm độc. Nhưng cũng có những con đường khác có thể dẫn đến ngộ độc botulism.
Các triệu chứng ngộ độc botulism
Cho dù bị nhiễm độc botulism qua con đường nào thì các triệu chứng hầu như đầu như nhau. Triệu chứng đặc trưng nhất chính là cảm giác yếu cơ bắt đầu từ mặt và lan dần xuống cổ, rồi toàn bộ cơ thể. Các triệu chứng khác bao gồm:
Theo sau các triệu chứng này có thể bao gồm các triệu chứng như nôn mửa, đau bụng và tiêu chảy. Sau đó, người bị ngộ độc có thể gặp khó khăn trong việc đi tiểu tiện cũng như bị táo bón nghiêm trọng.
Các triệu chứng của ngộ độc botulism thông thường không bao gồm sốt.
Nếu không được điều trị kịp thời, các triệu chứng có thể tiến triển này liệt các chi, thậm chí liệt cơ hô hấp.
Các triệu chứng ngộ độc botulism ở trẻ sơ sinh bao gồm:
Triệu chứng ngộ độc botulism từ vết thương gần giống với ngộ độc botulism thông thường như có thể mất đến 2 tuần để các triệu chứng bắt đầu xuất hiện. Triệu chứng có thể bao gồm:
Triệu chứng ngộ độc botulism do hít phải cũng giống với các triệu chứng nêu trên. Tuy nhiên các triệu chứng này tiến triển rất nhanh và có thể xảy ra suy hô hấp.
Triệu chứng nhiễm độc đường ruột ở người lớn khá tương tự như ngộ độc botulism ở trẻ sơ sinh nhưng có thể có thêm các triệu chứng như:
Triệu chứng ngộ độc botulism do điều trị y khoa cũng tương tự với ngộ độc botulism thông thường. Bên cạnh triệu chứng yếu cơ còn có thể có thêm các triệu chứng như:

Khi nào nên gọi cấp cứu?
Các triệu chứng ngộ độc botulism do thực phẩm có thể xuất hiện từ 18-36 giờ sau khi ăn thực phẩm bị nhiễm khuẩn, tuy nhiên các triệu chứng cũng có thể xuất hiện sớm chỉ trong vòng 6 giờ.
Trong nhiều trường hợp, các triệu chứng chỉ xuất hiện sau 1 tuần – 10 ngày sau khi ăn phải thục phẩm nhiễm khuẩn.
Các triệu chứng ở trẻ sơ sinh có thể không xuất hiện cho đến 14 ngày. Trẻ bị ngộ độc botulism có thể biểu hiện rất mệt mỏi, có thể tiếp tục bị táo bón và không chịu ăn.
Các biến chứng của ngộ độc botulism
Ngộ độc botulism có thể gây ra các triệu chứng vô cùng nghiêm trọng, nhưng không thể lây từ người sang người. Tuy nhiên, nếu không may bạn bị ngộ độc botulism, khả năng cao bạn sẽ phải nhập viện để theo dõi và điều trị.
Những trường hợp nhiễm độc nặng có thể để lại các vấn đề về hô hấp dài hạn, bao gồm khó thở và nhanh mệt.
Các trường hợp ngộ độc botulism vẫn có thể hồi phục hoàn toàn, nhưng thời gian phục hồi sẽ phụ thuộc vào mức độ nghiêm trọng của tình trạng ngộ đôc. Những trường hợp nhẹ có thể hồi phục sau vài tuần đến vài tháng. Nhưng những trường hợp nặng có thể mất đến vài tháng hoặc vài năm để bình phục hoàn toàn.
Nếu không được điều trị, ngộ độc botulism có thể gây nguy hiểm đến tính mạng.
Điều trị ngộ độc botulism
Người bị ngộ độc sẽ phải nhập viện để theo dõi và điều trị. Trong quá trình điều trị, bác sĩ có thể sử dụng các phương pháp điều trị khác nhau tùy thuộc vào từng trường hợp, có thể bao gồm:
Phòng ngừa ngộ độc botulism
Nếu bạn thường tự muối các loại rau quả và đóng lọ, hãy chắc chắn rằng tay bạn, lọ đựng và các dụng cụ phải sạch nhất có thể. Rửa sạch và cất các nguyên liệu một cách cẩn thận để giảm thiểu nguy cơ nhiễm khuẩn trước khi đóng hộp.
Chất độc botulism có thể bị triệt tiêu ở nhiệt độ cao, do vậy, nếu có thể, hãy đun nóng thực phẩm đóng hộp trong vòng 10 phút để diệt khuẩn. Làm lạnh đúng cách cũng là một trong những phương pháp phòng ngừa sự sinh sôi của vi khuẩn C. botulinum.
Một vài điều cần nhớ:
Có một số loại xét nghiệm máu có thể được sử dụng để chẩn đoán thiếu máu. Trong đó công thức máu toàn phần là xét nghiệm phổ biến nhất, các loại xét nghiệm khác tuy ít phổ biến hơn nhưng cũng có thể hữu ích trong việc giúp xác định nguyên nhân gây thiếu máu. Cùng tìm hiểu về những loại xét nghiệm này qua bài viết sau!
Theo thống kê từ Tổ chức Y tế Thế giới, năm 2019 có tới 2,6 triệu ca tử vong do tiêu thụ rượu, trong đó 2 triệu ca là nam giới.
Dịp Tết Nguyên đán là thời điểm gia tăng các hoạt động giao thương, đi lại và sinh hoạt cộng đồng. Đây cũng là giai đoạn tiềm ẩn nhiều nguy cơ về tai nạn thương tích (TNTT) trong đời sống hàng ngày.
Mùa lễ hội là dịp để mọi người quây quần, gặp gỡ và chia sẻ niềm vui bên những bữa tiệc. Tuy nhiên, việc tiêu thụ rượu bia không kiểm soát trong những sự kiện này có thể dẫn đến nhiều hệ lụy nghiêm trọng cho sức khỏe và an toàn. Từ các bệnh lý mạn tính như xơ gan, bệnh tim mạch đến những tai nạn giao thông đáng tiếc, tác hại rượu bia không chỉ ảnh hưởng đến cá nhân mà còn gây tổn thất cho xã hội. Để tận hưởng mùa lễ hội một cách an toàn, việc uống rượu an toàn và phòng say xỉn là điều cần thiết. Hãy là người uống có trách nhiệm !
Việc sử dụng thực phẩm bẩn trong thời gian dài làm gia tăng nguy cơ mắc các bệnh ung thư trong đó có ung thư dạ dày, đại tràng và ung thư vòm họng.
Mùa xuân là thời điểm trẻ nhỏ thường đối mặt với nhiều nguy cơ về sức khỏe đường ruột do sự thay đổi đột ngột trong chế độ ăn uống và sinh hoạt. Sự kết hợp giữa các bữa tiệc tùng dịp lễ Tết và điều kiện môi trường nồm ẩm đặc trưng của mùa xuân tạo cơ hội cho các tác nhân gây hại tấn công hệ tiêu hóa non nớt của trẻ. Để giúp phụ huynh có cái nhìn đầy đủ và chủ động bảo vệ sức khỏe cho con trẻ trong giai đoạn này, hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu nguyên nhân cũng như các biện pháp phòng ngừa hiệu quả.
Ô nhiễm không khí không chỉ ảnh hưởng đến phổi mà còn gây tổn hại sâu sắc cho làn da. Bụi mịn và khí độc có thể khiến da lão hóa sớm, viêm nhiễm và mất hàng rào bảo vệ tự nhiên.
TS.BS Trương Hồng Sơn nhận định, quy trình an toàn thực phẩm bị đứt gãy thường là kết quả của thiếu minh bạch, thiếu kiểm tra độc lập và thiếu hệ thống quản lý.