Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Dùng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ như thế nào là đúng cách?

Dùng thuốc kháng sinh cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ như thế nào là đúng cách? Các bậc phụ huynh nên biết được đâu là các loại thuốc được phép dùng để chỉ định cho các bé cũng như cách thức, liều lượng chính xác tốt nhất mà không gây hại cho cơ thể con trẻ trong giai đoạn đầu tiên.

Trẻ nhỏ luôn có hệ miễn dịch và sức đề kháng rất yếu, thế nên sử dụng thuốc kháng sinh chính là cách hữu hiệu nhất mà bố mẹ thường áp dụng cho con yêu của mình. Nhưng phải làm sao để có thể sử dụng thuốc kháng sinh đúng cách, đúng liều mà không khiến con tẻ sợ hãi, ám ảnh mỗi khi bệnh phải uống thuốc thì bài viết chia sẻ kiến thức hôm nay sẽ hỗ trợ thật nhiều cho bố mẹ.

Thuốc đưa vào cơ thể trẻ qua bất cứ đường nào (uống, tiêm, bôi ngoài da) đều được hấp thu, chuyển hóa ở gan và đào thải qua thận, trong khi chức năng gan thận ở trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ còn rất yếu.

Do đó, khả năng thải trừ thuốc ở đối tượng này chậm hơn nhiều so với người lớn và trẻ lớn. Vì vậy, dược chất dễ bị tích tụ trong cơ thể, gây ra ngộ độc, nhất là khi trẻ dùng thuốc kéo dài.

Thuốc vào cơ thể sẽ gắn với protein trong huyết tương và đẩy billirubin ra, làm tăng billirubin trong máu, gây nên hiện tượng vàng da. Ở trẻ nhỏ, sự phân phối kháng sinh trong cơ thể cũng khác người lớn vì tỷ lệ nước trong cơ thể nhiều hơn. Do đó liều lượng, cách dùng thuốc phải rất thận trọng.

Các loại thuốc kháng sinh được khuyến cáo không nên dùng cho trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ

Cloramphenicol: Có thể gây “hội chứng xanh xám” cho trẻ sơ sinh, nhất là trẻ đẻ non. Trẻ bị xanh tái dần rồi trụy tim mạch và tử vong. Cloramphenicol còn gây ngộ độc cho tủy xương, nếu dùng kéo dài có thể gây suy tủy, thiếu máu không hồi phục.

Tetracyclin: Không nên dùng cho trẻ dưới 8 tuổi vì thuốc này làm chậm phát triển xương, làm cho răng có màu vàng nâu vĩnh viễn. Tetracyclin còn làm căng thóp ở trẻ sơ sinh.

Kháng sinh nhóm aminozid (như streptomycin, gentamycin): Nếu dùng cho trẻ sơ sinh sẽ dễ gây điếc. Các loại sulfonamid như bactrim không nên dùng cho trẻ nhỏ vì dễ gây vàng da và độc với thận. Các thuốc kháng sinh negram, nitrofurantoin, rifamicin cũng không nên dùng cho trẻ nhỏ vì có thể gây vàng da, nhiễm độc cho gan.

Về cách đưa thuốc kháng sinh vào cơ thể trẻ:

Phải hết sức thận trọng, nên dùng đường uống, hoặc tiêm tĩnh mạch nếu có chỉ định của thầy thuốc. Đối với trẻ nhỏ, không nên tiêm bắp vì làm trẻ đau và đặc biệt là dễ gây xơ cứng cơ, khiến trẻ bị tàn tật.

Trẻ em không phải là người lớn thu nhỏ, do đó không nên cho rằng người lớn dùng gì thì trẻ em dùng nấy, chỉ cần bớt liều đi. Khi trẻ bị ốm, nhất thiết phải đưa đi khám và chữa bệnh tại các cơ sở y tế, không tự ý cho trẻ uống kháng sinh hoặc điều trị theo sự mách bảo của những người không có chuyên môn.

Kinh nghiệm khi cho trẻ uống thuốc kháng sinh

Không tự ý dùng thuốc cho trẻ vì có thể gây ngộ độc, lờn thuốc. Luôn tuân theo các hướng dẫn của bác sĩ khi dùng bất kỳ thuốc gì cho trẻ.

Không tự ý giảm hoặc tăng liều thuốc. Không sử dụng toa cũ, lấy thuốc của trẻ này cho trẻ khác uống.

Không bóp mũi trẻ, đè đổ thuốc. Giải thích và dỗ dành trẻ nếu trẻ khóc hoặc không chịu uống thuốc.

Không cho trẻ uống thuốc khi trẻ đang khóc, cười hay đang co giật.

Không nên cho trẻ uống thuốc lúc bụng đói, nhất là các thuốc giảm đau, kháng viêm như: aspirine, corticoide… để phòng ngừa chứng viêm loét dạ dày.

Cho trẻ uống những loại thuốc phù hợp với lứa tuổi của trẻ.

Cách cho trẻ uống thuốc dễ dàng và không sợ hãi, nên chọn dạng thuốc thích hợp cho trẻ:

  • Đối với trẻ nhỏ, trẻ nhũ nhi: cần chọn dạng thuốc lỏng như: sirô, hỗn dịch, nhũ dịch (hỗn dịch, nhũ dịch là dạng thuốc lỏng có phần trắng đục như sữa, trước khi uống phải lắc kỹ chai để thuốc trộn đều) hoặc thuốc giọt hòa vào nước để uống. Đây là các thuốc đã được bào chế thơm, ngọt nên trẻ thích uống. Cũng có thể chọn những loại thuốc có dạng thuốc bột, thuốc cốm đựng trong gói, khi uống sẽ hòa với nước thành dạng lỏng có mùi thơm, vị ngọt, dễ uống đối với trẻ.
  • Đối với những trẻ lớn, thường từ 5 tuổi trở lên, có thể nuốt được viên thuốc: ta có thể cho trẻ uống thuốc dạng viên nén hoặc thuốc hình bao con nhộng. Không nên nghiền nhỏ viên thuốc cho trẻ uống vì có một số loại thuốc chứa dược chất rất đắng, sẽ làm cho trẻ sợ hãi. Điều cần lưu ý nữa là không nên hù dọa, tạo không khí căng thẳng mà cần mềm mỏng, kiên trì thuyết phục khi cho trẻ uống thuốc.

Không pha thuốc vào bất cứ loại nước nào hoặc thức ăn của trẻ. Chỉ nên pha thuốc với nước đun sôi để nguội để đảm bảo đặc tính của thuốc và duy trì hiệu quả điều trị.

Không pha thuốc vào những loại dịch uống hoặc thức ăn sau đây vì sẽ làm thành phần, hiệu quả và tác dụng của thuốc bị thay đổi.

  • Không pha thuốc vào bình sữa cho trẻ bú: sữa công thức (sữa bò) chứa nhiều kali và sắt. Những chất này khi gặp một số thuốc sẽ phản ứng, tạo ra một số tạp chất ổn định hoặc khó tan, gây cản trở cho sự hấp thụ thuốc của lòng ruột và dạ dày. Thậm chí, có những loại thuốc còn bị những chất này phá hủy. Ngoài ra, canxi có trong sữa có thể làm cản trở mức hấp thu của một số loại thuốc kháng sinh, do đó không nên dùng sữa để uống thuốc.
  • Không pha thuốc vào nước ép trái cây: trong nước trái cây, nhất là nước cam, chanh có thành phần acid tương đối nhiều. Khi dùng nước trái cây để uống thuốc có thể làm xảy ra một số phản ứng hóa học dẫn đến thay đổi tính chất của thuốc. Nếu pha với nước nho ép có thể làm giảm tác dụng và làm tăng phản ứng phụ của thuốc chữa bệnh. Lý do nước nho ép có thể ức chế các men trong quá trình hấp thụ thuốc, chẳng hạn như thuốc điều trị bệnh tim mạch và thuốc chống nấm.
  • Không pha thuốc vào thức ăn hoặc thức uống của trẻ: mùi vị thơm ngon của thức ăn, thức uống sẽ hòa lẫn với mùi vị lạ của thuốc. Trẻ kén ăn hoặc nhạy cảm mùi vị sẽ phản ứng, từ chối thức ăn, thức uống đã được pha thuốc, dù đó là những thứ mà trước đây trẻ ưa thích. Đối với trẻ lớn hơn, trộn thuốc như thế trẻ sẽ cho là mình bị đánh lừa và mất lòng tin ở cha mẹ.
Theo Thư viện đời sống
Bình luận
Tin mới
  • 14/02/2026

    Myricetin - Vai trò và ý nghĩa đối với sức khỏe

    Myricetin là một flavonol thuộc nhóm flavonoid – các hợp chất polyphenol phổ biến trong giới thực vật.

  • 14/02/2026

    6 lý do khiến phụ nữ bị đau bụng kinh dữ dội

    Co thắt nhẹ hay đầy hơi khi hành kinh là bình thường nhưng nếu đau bụng kinh dữ dội hoặc có thể kèm chảy máu ồ ạt, đó có thể là dấu hiệu bệnh lý phụ khoa nguy hiểm cần đi khám ngay.

  • 14/02/2026

    Điều gì xảy ra với cơ thể khi một người ăn riềng xay trộn chất cấm Vàng O?

    Thạc sĩ Lưu Liên Hương - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu, Viện Y học Ứng dụng Việt Nam cảnh báo, Vàng O có khả năng gây biến đổi tế bào và làm tăng nguy cơ ung thư khi tích lũy lâu dài trong cơ thể.

  • 14/02/2026

    Chăm sóc sức khỏe tinh thần cho người độc thân trong ngày lễ Tình yêu

    Ngày Valentine đến, phố phường dường như nhộn nhịp hơn với hoa và quà, nhưng đôi khi điều đó lại khiến những người đang độc thân cảm thấy lòng chùng xuống. Nếu bạn đang cảm thấy một chút trống trải hay lạc lõng khi ngày lễ này cận kề, hãy nhớ rằng đó là những cảm xúc hoàn toàn tự nhiên.

  • 13/02/2026

    Thuốc nhuộm tóc có gây ung thư?

    Thuốc nhuộm tóc được sử dụng rộng rãi để che tóc bạc và thay đổi diện mạo. Tuy nhiên, nhiều người lo ngại các hóa chất trong thuốc nhuộm có thể làm tăng nguy cơ ung thư. Vậy sự thật thế nào?

  • 13/02/2026

    Lợi ích của tình yêu và các hormone hạnh phúc đối với sức khỏe

    Tình yêu là một quá trình hoạt động tự nhiên của não bộ. Thay vì chỉ là cảm xúc đơn thuần, nó giống như một bộ máy điều khiển giúp cơ thể và tinh thần của chúng ta hoạt động tốt hơn. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ giải thích rõ hơn về cách hoạt động này để bạn thấy được tình yêu bảo vệ sức khỏe như thế nào. Việc tìm hiểu về các hoạt chất trong não không chỉ giải thích lý do chúng ta thấy vui vẻ, mà còn giúp giữ cho trái tim và trí óc luôn khỏe mạnh.

  • 12/02/2026

    Cẩm nang duy trì sức khỏe trong kỳ nghỉ Tết Nguyên Đán

    Kỳ nghỉ Tết thường đi kèm với sự thay đổi đột ngột trong chế độ dinh dưỡng và sinh hoạt, gây áp lực trực tiếp lên hệ tiêu hóa, chuyển hóa và hệ thần kinh.

  • 12/02/2026

    Làm ca đêm kéo dài, nội tiết phụ nữ thay đổi ra sao?

    Làm việc ca đêm khiến nhịp sinh học đảo lộn, kéo theo rối loạn nội tiết ở phụ nữ. Tình trạng này ảnh hưởng đến kinh nguyệt, sinh sản và sức khỏe lâu dài nếu không được kiểm soát.

Xem thêm