Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Bác sỹ ung thư nói về 'mặt trái' của xét nghiệm sàng lọc ung thư sớm

Dấu ấn ung thư (chỉ điểm u, tumor markers) được sản xuất một lượng lớn bởi khối u có thể phân biệt u lành với ung thư hoặc phát hiện được khối u bằng xét nghiệm máu.

Ảnh minh họa: Internet

Ảnh minh họa: Internet.

Dấu ấn ung thư (chỉ điểm u, tumor markers) được sản xuất một lượng lớn bởi khối u có thể phân biệt u lành với ung thư hoặc phát hiện được khối u bằng xét nghiệm máu. Một số tumor markers đặc hiệu với một loại ung thư nào đó, số khác gặp trong nhiều loại ung thư. Phần lớn các tumor markers còn tăng trong những bệnh không phải là ung thư. Do đó tumor markers sử dụng đơn lẻ không phải là công cụ chẩn đoán ung thư.

Đặc điểm của tumor markers lý tưởng phải gồm:

1. Đặc hiệu cơ quan và đặc hiệu khối u (specificity).

2. Tương ứng với kích thước và hoạt động của khối u.

3. Chỉ dương tính khi là ung thư.

4. Dương tính sớm trong giai đoạn phát triển bệnh ác tính.

5. Dễ dàng đo lường được.

Tại thời điểm hiện tại không có TUMOR MARKERS nào thỏa mãn tất cả các tiêu chuẩn trên.

Phần lớn tumor markers có ở mô bình thường, u lành và u ác và không đủ đặc hiệu để dùng cho sàng lọc ung thư.

Ví dụ CEA là protein trên bề mặt tế bào, chỉ điểm cho ung thư đại trực tràng, dạ dày ruột, phổi và vú. CEA còn tăng ở người nghiện thuốc lá, xơ gan, polyp trực tràng, viêm loét trực tràng, bệnh tuyến vú lành tính. Không dùng CEA cho sàng lọc ung thư. Ngược lại một người ung thư dạ dày nhưng không nhất định phải có CEA tăng.

CA 19.9 là dấu ấn của carcinoma đại trực tràng và tụy. Tuy nhiên nó cũng có thể tăng ở bệnh nhân ung thư gan mật, dạ dày, tế bào gan và nhiều bệnh lành tính như viêm tụy, bệnh dạ dày ruột.

Tumor markers chỉ tham gia vào công việc tiếp cận chẩn đoán chứ một mình nó không dùng để chẩn đoán ung thư, càng không dùng để sàng lọc phát hiện sớm ung thư. Tumor markers ở bệnh nhân ung thư tương ứng với kích thước khối u và/hoặc hoạt động của khối u. Nhưng không phải ung thư nào cũng tăng tumor markers. Tumor markers chủ yếu được dùng để phân nhóm nguy cơ, tiên lượng, theo dõi đáp ứng điều trị, nghi ngờ tái phát của bệnh nhân ung thư.

Lạm dụng xét nghiệm dấu ấn ung thư hại nhiều hơn lợi. Có bệnh nhân ung thư rồi, không thấy dấu ấn ung thư tăng thì reo lên "Thế chắc tôi bị u lành". Có người khoẻ mạnh thấy kết quả xét nghiệm của mình cao hơn chỉ số tham chiếu thì hoảng sợ mất ăn mất ngủ suy sụp, thậm chí lập tức uống lang băm lá lẩu ngay.

Vì vậy, chẩn đoán ung thư bao gồm hỏi bệnh sử, tuổi hay bị ung thư đó, các yếu tố nguy cơ, tiền sử phơi nhiễm, khám lâm sàng tìm kiếm triệu chứng và tổn thương, siêu âm, chẩn đoán hình ảnh, sinh thiết làm giải phẫu bệnh, sử dụng những tumor markers nghĩ đến cơ quan/khối u nào đó...

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Những yếu tố nguy cơ gây ung thư cổ tử cung.

TS - BS Phạm Thị Việt Hương - Theo tienphong.vn
Bình luận
Tin mới
  • 02/11/2026

    Cúm, COVID-19, viêm phổi và RSV – 4 bệnh truyền nhiễm dễ bùng phát khi trời lạnh

    Mùa lạnh là “thời điểm vàng” cho nhiều loại virus đường hô hấp phát triển. Nhiệt độ thấp và độ ẩm giảm khiến hệ miễn dịch suy yếu, niêm mạc mũi họng bị khô, giảm khả năng lọc và tiêu diệt mầm bệnh. Ngoài ra, khi trời lạnh, con người có xu hướng ở trong không gian kín, hạn chế thông gió, tạo điều kiện cho virus dễ lây lan qua giọt bắn và không khí.

  • 01/11/2026

    Chiến dịch Movember và hành trình chủ động bảo vệ sức khỏe phái mạnh

    Để nâng cao nhận thức cộng đồng và khuyến khích nam giới chủ động chăm sóc bản thân, tháng 11 hằng năm đã được chọn là tháng hành động vì sức khỏe nam giới toàn cầu.

  • 01/11/2026

    Lợi ích của hoạt động ngoài trời trong mùa đông

    Khi mùa đông bắt đầu, nhiều người sẽ cảm thấy thiếu sức sống, thiếu năng lượng và cảm thấy buồn chán. Đây là một dạng rối loạn cảm xúc theo mùa (SAD), ảnh hưởng đến hàng triệu người trên toàn thế giới.

  • 31/10/2026

    Nguy cơ đột quỵ và bệnh tim mạch gia tăng khi trời lạnh: Cơ chế và cách phòng ngừa

    Nhiều nghiên cứu dịch tễ học ghi nhận tỷ lệ nhập viện do nhồi máu cơ tim, đột quỵ và suy tim tăng rõ rệt trong những tháng mùa đông so với các thời điểm khác trong năm.

  • 31/10/2026

    Thời tiết nồm ẩm và nguy cơ bệnh tiêu hóa: Triệu chứng và cách phòng ngừa

    Độ ẩm không khí tăng cao không chỉ gây khó khăn cho sinh hoạt mà còn biến môi trường thuận lợi cho các loại mầm bệnh như vi khuẩn, virus và nấm mốc phát triển mạnh mẽ. Điều này khiến thực phẩm dễ hỏng, thức ăn thừa nhanh ôi thiu, dẫn đến nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến đường tiêu hóa, gây đau bụng, nôn mửa thậm chí nguy hiểm đến tính mạng. Viện Y học Ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin hữu ích giúp bạn nhận biết sớm triệu chứng và áp dụng các biện pháp bảo vệ sức khỏe hiệu quả trong giai đoạn này.

  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

Xem thêm