Nhiều bất lợi cho sức khỏe và sự phát triển của trẻ
Mút tay được xem là bình thường ở những trẻ nhỏ. Bản năng bú mút tự nhiên dẫn đến việc trẻ thường xuyên mút tay trong những tháng đầu đời và thậm chí từ trước khi sinh. Trẻ có thể mút ngón tay, bàn tay hoặc những phần khác của cơ thể. Nhiều nghiên cứu cho thấy đa số trẻ có thể an toàn khi ngậm mút ngón tay vì trẻ chỉ ngậm mút ngón tay một cách nhẹ nhàng. Tuy nhiên, đa phần những trẻ trên 5 tuổi vẫn giữ thói quen này thì việc ngậm mút ngón tay sẽ trở thành tật khó chữa gây những bất lợi cho sức khỏe và sự phát triển của trẻ trong tương lai.
- Ngậm mút tay khi bàn tay trẻ chưa được rửa sạch sẽ là yếu tố thuận lợi làm cho trẻ bị lây các bệnh truyền nhiễm nguy hiểm qua đường tay – miệng như bệnh tay chân miệng, bệnh cúm, bệnh thủy đậu, nhiễm giun và đặc biệt là các bệnh về đường tiêu hoá.
- Trẻ ngậm ngón tay quá sâu khiến trẻ dễ bị nôn trớ, nhất là sau khi ăn hoặc bú. Ở những trẻ có động tác mút mạnh liên tục, thậm chí nhai hoặc dùng lưỡi đẩy có thể gây ra một số tổn thương ở da ngón tay như da ngón tay bị nứt đi nứt lại, thậm chí lở loét, sẽ tạo điều kiện cho vi trùng bên ngoài xâm nhập vào dưới da sẽ gây viêm da mủ. Mút tay nhiều với thời gian dài, còn gây biến dạng xương ngón tay, tạo nên hình dạng ngón tay bất thường.
- Nghiêm trọng hơn, ở những trẻ từ 5 – 6 tuổi đang trong thời kỳ thay răng vĩnh viễn, tật ngậm mút tay với động tác mút mạnh liên tục hoặc dùng lưỡi đẩy thì có thể gây ra một số tổn thương ở răng và hàm, dẫn đến tình trạng biến dạng răng như hàm bị hô (răng và hàm bị đẩy ra ngoài) hay móm (một hàm thụt vào trong), lệch khớp cắn, khó phát âm.
- Về mặt tâm lý, mút ngón tay thường được xem là biểu hiện của sự xấu hổ, thiếu tự tin và bị các bạn bè chú ý trêu ghẹo, gây mặc cảm cho trẻ khi đến trường.

Ngậm mút tay là thói quen của trẻ nhỏ.
- Với trẻ còn bú mẹ nên cho bú mẹ đầy đủ để bảo đảm trẻ không bị đói để tránh thói quen trẻ tìm tay của mình để ngậm mút. Nếu trẻ thỉnh thoảng mới mút tay, cha mẹ chỉ cần làm phân tâm trẻ, lôi cuốn sự chú ý vào những trò chơi phù hợp với lứa tuổi của trẻ, giúp trẻ dễ chịu vào những thời điểm sắp ngậm mút tay.
- Những lúc trẻ gặp khó khăn hoặc đang căng thẳng như trẻ bị bệnh, bị đau đớn sau tiêm chủng, bị người lớn dọa nạt khiến trẻ sợ hãi, cha mẹ lúc này nên dành nhiều thời gian gần gũi bên trẻ để chăm sóc trẻ tốt hơn, tạo sự ấm áp giúp trẻ vượt qua giai đoạn khó khăn một cách dễ dàng, cũng là cách để hạn chế thói quen trẻ ngậm mút tay.

Ngậm mút tay gây nhiều bất lợi cho sức khỏe và sự phát triển của trẻ.
- Những trẻ tuy lớn những vẫn còn thói quen ngậm mút tay, cha mẹ cần có sự kiên nhẫn giúp trẻ bỏ dần tật ngậm mút tay qua lời động viên, giải thích những tác hại có thể xảy ra khi trẻ ngậm mút tay “kéo dài” gây bất lợi đến sức khỏe và sự vui chơi của trẻ, một cách tích cực hơn là tạo điều kiện thuận lợi cho trẻ tham gia những trò chơi mà trẻ yêu thích như trò chơi ô chữ, tô màu truyện tranh, nặn đất, tô tượng, chơi cầu tụt, đá banh nhẹ nhàng…giúp trẻ phát triển tốt thể lực và trí não, quan trọng hơn là giúp trẻ dễ dàng “quên đi món khoái khẩu là ngậm tay”.
- Với những trẻ đã “ghiền ngậm tay và ngậm đồ chơi”, trong giai đoạn “cai ngậm mút tay” cho trẻ, phụ huynh cần lưu ý thói quen vệ sinh cần thiết cho trẻ như nhắc nhở trẻ thường xuyên rửa tay sạch, cắt móng tay, vệ sinh da để tránh lây bệnh, những đồ chơi thường ngày và nơi vui chơi của trẻ cũng phải đảm bảo việc giữ vệ sinh thật tốt.
Nếu những cố gắng trên của cha mẹ không giúp đuợc gì cho trẻ, hãy đưa trẻ đến gặp bác sĩ chuyên về tâm lý trẻ em để có biện pháp khắc phục và chăm sóc trẻ tránh tật ngậm mút tay một cách hiệu quả hơn.
Việc ngậm mút tay được khẳng định là một “sở thích rất đời thường” của trẻ, trẻ ngậm mút tay mang lai cho trẻ một sự sảng khoái giúp trẻ khôn lớn từng ngày và đó cũng được xem là một trong những trò chơi thú vị đối với trẻ trong những năm tháng đầu đời. Trẻ thích ngậm mút nay có thể được lý giải vì những nguyên nhân sau đây:
Tỏi và mật ong là hai thực phẩm quen thuộc trong bữa ăn hằng ngày của người Việt. Ngoài giá trị dinh dưỡng, chúng còn được nghiên cứu về một số tác dụng sinh học có lợi cho sức khỏe khi sử dụng hợp lý.
Thiền định không chỉ bắt nguồn từ truyền thống tâm linh mà còn được khoa học chứng minh mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe thể chất và tinh thần trong cuộc sống hiện đại. Thực hành thiền giúp giảm stress hàng ngày, hỗ trợ điều trị bệnh lý mãn tính, và tạo sự cân bằng nội tại bền vững. Chỉ vài phút thiền mỗi ngày có thể tạo ra những thay đổi sinh học tích cực, như giảm hormone căng thẳng cortisol và cải thiện chức năng hệ miễn dịch. Bài viết này nhằm tổng hợp các bằng chứng khoa học về lợi ích của thiền và cung cấp hướng dẫn thực hành đơn giản cho người mới bắt đầu.
Thời gian gần đây, trào lưu “ăn chống viêm”, “thải độc” hay “tăng miễn dịch cấp tốc” với những lời khuyên “bỏ sữa ngay để trị mụn”, “gluten (ngũ cốc) là thủ phạm gây viêm não” trở nên phổ biến trên mạng xã hội.
Việc có những ngày sinh hoạt đều đặn có thể giúp bạn cảm thấy ổn định hơn khi cuộc sống trở nên căng thẳng. Nhưng một số thói quen nhỏ, thường bị bỏ qua, lại có thể gây hại cho sức khỏe của bạn, dẫn đến căng thẳng về thể chất hoặc tinh thần theo thời gian.
Kỳ thi tuyển sinh vào lớp 10 tại Hà Nội sẽ diễn ra vào ngày 30 và 31-5-2026. Trong cuộc đua nước rút đầy áp lực, bên cạnh việc ôn luyện kiến thức, chế độ dinh dưỡng đóng vai trò quyết định đến phong độ của thí sinh. Chuyên gia dinh dưỡng khuyến cáo, bổ sung dưỡng chất đúng cách để đảm bảo sức khỏe, trí não hoạt động bền bỉ trong giai đoạn cao điểm.
Muốn giảm cân, nhiều người thường cắt giảm tinh bột nhưng cơ thể cần đủ tinh bột để hoạt động. Vì vậy nên chọn đúng loại tinh bột và ăn đúng cách giúp giảm cân mà không cần phải nhịn đói khổ sở.
Nhiều người lầm tưởng rằng hệ miễn dịch của trẻ sau 6 tuổi đã trưởng thành và đủ sức chống chọi với thế giới. Tuy nhiên, thực tế khoa học lại cho thấy điều ngược lại: Đây là giai đoạn chuyển tiếp quan trọng cần được củng cố miễn dịch.
Chạy bộ giúp tiêu hao năng lượng hiệu quả và cải thiện sức khỏe tim mạch nhưng mỡ bụng không thể giảm ngay sau vài buổi tập. Thời điểm cơ thể bắt đầu huy động mỡ phụ thuộc vào cường độ vận động, thời gian duy trì, chế độ dinh dưỡng và khả năng thích nghi chuyển hóa của từng người.