Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Điều trị và chăm sóc trẻ bị viêm đường tiết niệu

Không chỉ ở người lớn mà trẻ em ngay từ sơ sinh đã có thể bị viêm đường tiết niệu. Trong các nhiễm khuẩn ở trẻ em, viêm đường tiết niệu gặp khá nhiều.

Viêm đường tiết niệu là gì?

Viêm đường tiết niệu là một bệnh gây nhiễm trùng tại bàng quang hay tại thận. Nhiễm trùng tại bàng quang gọi là bệnh viêm bàng quang. Nhiễm trùng tại thận được gọi là viêm đài bể thận. Triệu chứng phổ biến của nhiễm trùng tiết niệu bao gồm:

  • Sốt
  • Trẻ cảm thấy khó chịu, hay cáu gắt, quấy khóc
  • Tiểu tiện nhiều hơn bình thường
  • Cảm giác đau buốt khi đi tiểu nên thường khiến trẻ khóc khi mót tiểu hoặc đi tiểu
  • Đau bụng, nôn mửa
  • Đau lưng
  • Có máu trong nước tiểu, có thể chỉ màu hơi hồng nhạt cho đến máu đỏ, tươi hoặc sẫm màu như màu nước chè

Nguyên nhân gây viêm đường tiết niệu

Bệnh gây ra do vi khuẩn xâm nhập qua niệu đạo (là ống dẫn nước tiểu từ bàng quang ra ngoài cơ thể) và gây viêm nhiễm các bộ phận trong hệ thống tiết niệu.

Chẩn đoán viêm đường tiết niệu

Bác sỹ chẩn đoán bệnh sau khi thực hiện một số xét nghiệm đối với nước tiểu của trẻ. Việc chẩn đoán bao gồm ba bước:

  • Kiểm tra mẫu nước tiểu bằng que thử
  • Quan sát mẫu nước tiểu dưới kính hiển vi
  • Nuôi cấy vi khuẩn trong nước tiểu trong phòng thí nghiệm

Lấy mẫu nước tiểu

Mẫu nước tiểu chuẩn dùng để xét nghiệm là mẫu nước tiểu giữa dòng (bỏ đi nước tiểu đầu và cuối bãi tiểu), lấy vào buổi sáng. Bác sỹ sẽ hướng dẫn cha mẹ cách lấy nước tiểu và thu mẫu nước tiểu đựng trong một ống tuyp hay sử dụng túi đựng nước tiểu. 

Kết quả xét nghiệm nước tiểu

Các bác sỹ sẽ xem xét kết quả của các xét nghiệm nước tiểu và mẫu nuôi cấy vi khuẩn. Đối với mẫu nước tiểu được lấy đúng cách, nếu kết quả nuôi cấy vi khuẩn dương tính đồng nghĩa là trẻ đã bị viêm đường tiết niệu và ngược lại. Kết quả cuối cùng của quá trình nuôi cấy thường thu được sau 2 đến 3 ngày, sẽ cho biết trẻ bị nhiễm loại vi khuẩn nào và nên sử dụng loại kháng sinh nào cho phù hợp.

Đối với mẫu nước tiểu thu được bằng túi đựng nước tiểu và cho kết quả dương tính từ test que thử, các bác sỹ thường sẽ tiếp tục thu thêm mẫu nước tiểu kiểm tra một lần nữa để xác định chính xác tình trạng bệnh.

Chăm sóc trẻ bị viêm đường tiết niệu

Sử dụng kháng sinh

Tùy thuộc vào tuổi, triệu chứng và tiền sử bệnh, trẻ có thể phải sử dụng kháng sinh đường uống hoặc nhập viện để tiêm kháng sinh đường tĩnh mạch.

Ban đầu, bác sỹ sẽ kê một loại kháng sinh phổ rộng. Khi bác sỹ đã biết được chính xác loại vi khuẩn gây bệnh, một số loại kháng sinh đặc hiệu hơn thích hợp nhất cho loại vi khuẩn đó. Các triệu chứng của trẻ thông thường sẽ được cải thiện trong vòng 48 giờ sau khi dùng kháng sinh. Kể cả như vậy thì vẫn phải kiên trì cho trẻ dùng kháng sinh cho tới hết một liệu trình điều trị. Dừng đột ngột khi cảm thấy trẻ đã đỡ có thể làm bệnh tái phát nặng hơn và gây hiện tượng kháng thuốc nếu dùng trở lại kháng sinh đó.

Giảm đau và hạ sốt

Cho trẻ uống paracetamol hoặc ibuprofen để giảm đau và hạ sốt. Những thuốc này thường sẽ có hiệu lực trong vòng 1 h sau uống và không gây tương tác với kháng sinh.

Đưa trẻ đi thăm khám lại

Sau khi trẻ bắt đầu sử dụng kháng sinh, hãy lên lịch hẹn khám lại với bác sỹ. Các bác sỹ sẽ giúp kiểm tra xem các kháng sinh đang sử dụng có tác dụng tốt hay không hoặc kê một loại khác nếu trẻ không thấy đỡ.

Một số xét nghiệm khác cho trẻ dưới 2 tuổi

Nếu con bạn bị viêm đường tiết niệu lần đầu kèm theo sốt trước năm 2 tuổi, trẻ nên được làm siêu âm thận. Trẻ cũng nên chụp X-quang bàng quang niệu đạo (VCUG) để kiểm tra hiện tượng trào ngược nước tiểu tức là khi nước tiểu chảy ngược lại từ bàng quang vào niệu quản và thận. Việc thực hiện test kiểm tra này phụ thuộc vào kết quả siêu âm, độ tuổi của trẻ và tình trạng bệnh lý.

Các biện pháp dự phòng viêm đường tiết niệu ở trẻ

Phần lớn các bệnh viêm đường tiết niệu ở trẻ em có thể phòng tránh được. Đối với trẻ lớn, bạn có thể giúp phòng bệnh cho trẻ bằng các biện pháp sau đây:

  • Dạy con gái bạn cách chùi từ đằng trước ra sau (từ âm đạo ra phía hậu môn) sau khi đi vệ sinh. Điều này đặc biệt quan trọng sau khi đi đại tiện vì giúp ngăn ngừa vi khuẩn trong phân xâm nhập vào đường tiết niệu.
  • Phòng táo bón cho trẻ. Hiện tượng táo bón gây đại tiện khó khăn hơn hoặc tần xuất ít hơn bình thường. Đôi khi, táo bón ngăn cản quá trình rỗng hoàn toàn của bàng quang dễ dẫn tới viêm đường tiết niệu.
  • Khuyến khích trẻ uống thật nhiều nước mỗi ngày.
  • Khuyến khích trẻ đi tiểu sau mỗi 2 – 3 tiếng và không nên nhịn tiểu quá lâu.
  • Một vài trẻ bị trào ngược bàng quang niệu đạo nghiêm trọng hoặc những bất thường khác trong hệ thống tiết niệu có thể cần phải sử dụng kháng sinh liều thấp mỗi ngày để ngăn nhiễm trùng.

Khi nào nên đi khám bác sỹ

Hãy gọi cho bác sỹ để được tư vấn nếu những triệu chứng của trẻ kéo dài hơn 48 giờ sau khi bắt đầu dùng kháng sinh.

Hãy đưa trẻ tới phòng cấp cứu gần nhất hoặc gọi cấp cứu 115 nếu trẻ:

  • Cảm giác mệt lả và lờ đờ buồn ngủ.
  • Đau bụng hoặc đau lưng dữ dội.
  • Nôn mửa liên tục và không thể uống bất kỳ loại thuốc hay dung dịch lỏng nào.

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Dị tật sinh dục và tiết niệu ở trẻ em

Ts.Bs. Trương Hồng Sơn - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
  • 01/09/2026

    Cảnh báo 7 bệnh thường gặp mùa hè và cách phòng ngừa hiệu quả

    Mùa hè với nhiệt độ cao, độ ẩm lớn và thói quen sinh hoạt thay đổi là điều kiện thuận lợi cho nhiều loại virus, vi khuẩn và ký sinh trùng bùng phát. Hiểu rõ các bệnh thường gặp trong mùa nắng nóng sẽ giúp bạn chủ động bảo vệ sức khỏe cho bản thân và gia đình.

  • 31/08/2026

    3 loại đồ uống cần tránh khi dùng chung với thực phẩm chức năng dầu cá

    Tốt nhất nên uống thực phẩm bổ sung dầu cá cùng với thức ăn để tăng cường khả năng hấp thụ các axit béo omega-3 có lợi. Các loại đồ uống cần tránh khi dùng thực phẩm bổ sung dầu cá bao gồm rượu và đồ uống có ga.

  • 30/08/2026

    Uống đủ nước mỗi ngày: Nhiều người đang mất nước mà không hề hay biết

    Nước chiếm 60-70% trọng lượng cơ thể và tham gia vào hầu hết mọi phản ứng sinh hóa trong cơ thể. Thế nhưng, tình trạng thiếu nước mãn tính - không phải mất nước cấp tính - đang âm thầm ảnh hưởng đến sức khỏe của hàng triệu người Việt Nam mỗi ngày mà họ không nhận ra.

  • 29/08/2026

    Sự khác biệt giữa chế độ ăn phương Đông và phương Tây

    Chế độ ăn Địa Trung Hải từ lâu đã được coi là chuẩn mực cho một sức khỏe tốt. Ăn uống là một hành trình mang tính cá nhân sâu sắc, gắn liền với các mối liên hệ văn hóa, niềm tin tâm linh, thói quen và tất nhiên là cả nguồn thực phẩm sẵn có. Chế độ ăn uống trực tiếp chịu trách nhiệm cho sức sống cũng như sức khỏe thể chất và tinh thần của chúng ta, vì vậy không có gì ngạc nhiên khi có nhiều tranh luận về việc thế nào mới chính xác là một chế độ ăn lành mạnh; bởi đây là một vấn đề quan trọng và đầy thách thức.

  • 28/08/2026

    Huyết áp của bạn sẽ thay đổi như thế nào khi bạn tập thể dục mỗi ngày?

    Tập thể dục đều đặn hàng ngày có thể làm giảm huyết áp bằng cách tăng cường sức khỏe tim mạch và cải thiện độ đàn hồi cũng như chức năng của mạch máu. Tập thể dục với cường độ vừa phải hầu hết các ngày trong tuần có thể giúp giảm huyết áp bền vững và giảm nguy cơ mắc bệnh tim.

  • 27/08/2026

    Nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori và các bệnh lý liên quan

    Hơn 80% người trưởng thành tại Việt Nam nhiễm vi khuẩn Helicobacter pylori – tác nhân chính gây viêm loét và ung thư dạ dày. Khám phá ngay cơ chế lây truyền, quá trình phát triển bệnh và thách thức kháng kháng sinh hiện nay để chủ động bảo vệ sức khỏe gia đình bạn

  • 26/08/2026

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia

    Hội chứng mất khả năng cảm nhận niềm vui – Anhedonia là tình trạng khiến bạn không thể trải nghiệm niềm vui hoặc sự thích thú. Bạn có thể cảm thấy tê liệt hoặc ít hứng thú hơn với những điều mà trước đây bạn từng yêu thích. Đây là một triệu chứng phổ biến của nhiều bệnh lý tâm thần như trầm cảm. Cùng tìm hiểu về hội chứng này qua bài viết sau đây!

  • 25/08/2026

    Bạn có thể ở dưới ánh nắng mặt trời bao lâu trước khi da bị tổn thương?

    Đối với hầu hết mọi người, tác hại của ánh nắng mặt trời đối với da bắt đầu trong vòng 15 phút sau khi tiếp xúc với ánh nắng mặt trời mà không sử dụng kem chống nắng. Tuy nhiên, thời gian có thể thay đổi tùy thuộc vào loại da và loại tia cực tím, chỉ số (UV), thời gian và địa điểm.

Xem thêm