So với các thuốc chống viêm giảm đau không steroid (NSAIDs), paracetamol có rất ít tác dụng phụ với liều điều trị nên được cung cấp không cần kê đơn ở hầu hết các nước.
Vừa ra đời đã... “ba chìm bảy nổi”
Từ xưa, người ta đã sử dụng dược liệu từ cây liễu làm thuốc hạ sốt, mà sau này đã chiết xuất được aspirin. Thế kỷ 19, cây canh ki na và chất chiết xuất từ nó là Quinin được sử dụng để làm hạ sốt trong bệnh sốt rét.
Khi cây canh ki na dần khan hiếm vào những năm 1880, người ta bắt đầu đi tìm các thuốc thay thế. Khi đó, 2 thuốc hạ sốt đã được tìm ra là acetanilide năm 1886 và phenacetin năm 1887.
Năm 1878, Harmon Northrop Morse đầu tiên đã tổng hợp được paracetamol, tuy nhiên, paracetamol đã không được dùng làm thuốc điều trị trong suốt 15 năm sau đó.
Năm 1893, paracetamol đã được tìm thấy trong nước tiểu của người uống phenacetin và đã được cô đặc thành một chất kết tinh màu trắng có vị đắng. Năm 1899, paracetamol được khám phá là một chất chuyển hóa của acetanilide, nhưng một lần nữa, khám phá này cũng bị lãng quên vào thời gian đó.
Năm 1946, Viện Nghiên cứu về giảm đau và thuốc giảm đau (the Institute for the Study of Analgesic and Sedative Drugs) đã tài trợ cho Sở Y tế New York để nghiên cứu các vấn đề xung quanh các thuốc điều trị đau. Bernard Brodie và Julius Axelrod được chỉ định nghiên cứu tại sao các thuốc non-aspirin lại liên quan đến tình trạng gây met-hemoglobin, (tình trạng làm giảm lượng ôxy được mang trong hồng cầu và có thể gây tử vong).
Năm 1948, Brodie và Axelrod kết nối việc sử dụng acetanilide với met-hemoglobin và xác định được rằng, tác dụng giảm đau của acetanilide là do paracetamol - chất chuyển hóa của nó gây ra. Họ chủ trương sử dụng paracetamol trong điều trị và từ đó đã không xuất hiện các độc tính như của acetanilide nữa.
Sản phẩm paracetamol đầu tiên đã được McNeil Laboratories đưa ra thị trường năm 1955 như một thuốc giảm đau hạ sốt cho trẻ em với tên Tylenol Children’s Elixir. Sau này, paracetamol đã trở thành thuốc giảm đau hạ sốt được sử dụng rộng rãi nhất với rất nhiều tên biệt dược được lưu hành.
Hạ nhiệt, giảm đau...
Cơ chế tác của paracetamol đang còn được tranh cãi, do thực tế là nó cũng có tác dụng ức chế men cyclooxygenase (COX) làm giảm tổng hợp prostaglandin giống như aspirin, tuy nhiên, paracetamol lại không có tác dụng chống viêm. Các nghiên cứu tập trung khám phá cách thức ức chế COX của paracetamol đã chỉ ra hai con đường:
Các men COX chịu trách nhiệm chuyển hóa arachidonic acid thành prostaglandinH2, là chất không bền vững và có thể bị chuyển hóa thành nhiều loại chất trung gian viêm khác. Các thuốc chống viêm kinh điển như NSAIDs tác động ở khâu này. Hoạt tính của COX dựa vào sự tồn tại của nó dưới dạng ôxy hóa đặc trưng, tyrosine 385 sẽ bị ôxy hóa thành một gốc. Người ta đã chỉ ra rằng, paracetamol làm giảm dạng ôxy hóa của men này từ đó ngăn chặn nó chuyển hóa các chất trung gian viêm.
Nghiên cứu sâu hơn cho thấy, paracetamol còn điều chỉnh hệ cannabinoid nội sinh. Paracetamol bị chuyển hóa thành AM404, một chất có các hoạt tính riêng biệt; quan trọng nhất là nó ức chế sự hấp thu của cannabinoid nội sinh bởi các neuron. Sự hấp thu này gây hoạt hóa các thụ thể đau tổn thương của cơ thể. Hơn nữa, AM404 còn ức chế kênh natri giống như các thuốc tê lidocaine và procaine.
... Gây ngộ độc gan khi quá liều
Với liều điều trị, sau uống khoảng 1 giờ thuốc được hấp thu hoàn toàn. Khi dùng quá liều, thuốc được hấp thu hết sau 4 giờ, ngoại trừ khi bệnh nhân uống đồng thời các thuốc làm chậm quá trình rỗng dạ dày và khi thuốc ở dạng giải phóng chậm thì thời gian hấp thu lâu hơn..
Thuốc được chuyển hóa ở gan với một tốc độ đều đặn. Quá trình chuyển hóa thuốc là căn nguyên dẫn đến ngộ độc. Paracetamol là một trường hợp hiếm hoi về tình trạng nhiễm độc thuốc ở gan (ngược hẳn với hoạt động khử độc bình thường của gan). 90% thuốc được chuyển hóa theo con đường sunphat hóa và glucuronit hóa, phần còn lại được hệ enzym cytochrome P-450 chuyển hóa nốt (hệ này chủ yếu ở gan).
Hoạt động chuyển hóa phụ thuộc theo tuổi, tuổi càng nhỏ thì chuyển hóa theo con đường sunphat càng nhiều, đến 12 tuổi thì chuyển hóa paracetamol ở trẻ em giống người lớn. Một chất chuyển hóa do hệ enzym cytochrome P-450 giải phóng là N-acetyl-p-benzoquinoneimine (NAPQI) gắn với màng tế bào gan và nếu không bị trung hòa bởi các chất chống ôxy hóa thì sẽ gây tổn thương lớp màng lipid kép của tế bào.
Glutathione của gan là chất chống ôxy hóa chủ yếu, chất này gắn và trung hòa NAPQI. Khi quá liều paracetamol thì kho dự trữ glutathione bị cạn kiệt dần và nếu thiếu hụt mất trên 70% số lượng bình thường thì NAPQI không bị trung hòa và sẽ gây tổn thương cho tế bào gan.
Về mặt lý thuyết, tất cả các chất ảnh hưởng hệ enzym này đều ảnh hưởng đến lượng NAPQI tạo ra. Các chất có thể gây cảm ứng với hệ enzym này bào gồm ethanol, INH, rifampin, phenytoin, carbamazepine, khói thuốc lá và thực phẩm hun bằng than củi...
Những người dùng thuốc chống động kinh kéo dài, nghiện rượu, dùng thuốc chống lao kéo dài có diễn biến của quá liều paracetamol trầm trọng hơn đối tượng khác. Trẻ em dưới 5 tuổi tỏ ra có khả năng đề kháng với các tác dụng độc của paracetamol, nguyên nhân người ta chưa rõ.
Bacillus cereus (B. cereus) là một vi sinh vật tiết ra các độc tố có hại, đây cũng chính là thủ phạm gây ra ngộ độc trong các sản phẩm thực phẩm không đạt chuẩn trên thị trường hiện nay, bao gồm một số loại sữa, cơm nguội và các món ăn khác. Bằng cách tiết ra một loại độc tố tên là Cereulide, nó có thể gây ngộ độc thực phẩm với các triệu chứng như tiêu chảy, nôn mửa. Tuy nhiên đấy không phải là tất cả, B. cereus có thể gây ra các vấn đề sức khỏe nghiêm trọng hơn và nguy hiểm đến tính mạng con người. Cùng tìm hiểu về vi khuẩn B. cereus qua bài viết sau đây!
Sau vụ cơ quan chức năng ở TPHCM triệt phá đường dây dùng 500 tấn natri silicate sơ chế 3.000 tấn thịt ốc bươu trước khi đưa ra thị trường, nhiều người lo lắng về mức độ ảnh hưởng tới sức khỏe khi lỡ ăn phải loại thực phẩm này.
Do đặc điểm bệnh lý ung thư gan liên quan trực tiếp đến chức năng gan – cơ quan chuyển hóa trung tâm – bệnh nhân ung thư gan có nhu cầu dinh dưỡng khác biệt so với người khỏe mạnh, đồng thời thay đổi tùy theo giai đoạn bệnh và tình trạng dinh dưỡng hiện tại…
Thời gian gần đây, natri silicate bị lợi dụng nhờ đặc tính tạo màng và giữ nước để bảo quản thực phẩm. Khi ngâm thực phẩm vào dung dịch này, hóa chất thẩm thấu giúp tăng trọng lượng ảo, làm nguyên liệu trương nước và tạo vẻ ngoài bóng bẩy, tươi mới.
Hen phế quản là một bệnh lý hô hấp mạn tính phổ biến, gây ra tình trạng viêm và co thắt đường thở, dẫn đến các triệu chứng như khó thở, khò khè, ho và cảm giác nặng ngực. Mặc dù không thể chữa khỏi hoàn toàn, nhưng với sự hiểu biết đúng đắn và các biện pháp kiểm soát hiệu quả, người bệnh có thể sống khỏe mạnh và giảm thiểu nguy cơ xảy ra các cơn hen cấp tính. Bài viết này sẽ cung cấp thông tin chi tiết về cách nhận biết, xử lý và kiểm soát hen phế quản.
Khi thời tiết lạnh, dương khí dễ bị tổn thương, huyết mạch lưu thông kém, tinh thần khó an định, từ đó sinh ra mất ngủ. Việc sử dụng các vị thuốc y học cổ truyền một cách hợp lý cũng là một cách hỗ trợ cải thiện giấc ngủ hiệu quả, an toàn.
Nipah là loại virus có tỷ lệ gây tử vong cao, chưa có vaccine và thuốc để điều trị. Virus Nipah được Tổ chức Y tế Thế giới xếp vào nhóm tác nhân gây bệnh nguy cơ cao.
Vụ việc phát hiện ốc bươu được ngâm trong hóa chất công nghiệp natri silicate (thủy tinh lỏng) vừa bị cơ quan chức năng triệt phá đã làm dấy lên lo ngại lớn về an toàn thực phẩm. Natri silicate là chất gì, vì sao bị cấm trong chế biến thực phẩm và ăn phải có thể gây hại như thế nào cho sức khỏe? Hãy cùng Viện Y học ứng dụng Việt Nam tìm hiểu!