Dưới góc nhìn của các chuyên gia, điều này thực sự lại là không đúng. Trên thực tế, khi uống rượu, chúng ta có cảm giác như đang mất đi một vài tế bào não và khiến chúng ta có những hành động kì quặc. Tuy nhiên, không có bằng chứng nào chứng minh được điều này, nhưng cũng không có nghĩa là rượu không ảnh hưởng tới não bộ.
1. Những điều cơ bản
Trước khi tìm hiểu về ảnh hưởng của rượu lên não bộ, bạn nên biết việc sử dụng rượu mức độ nào là ít hay là nhiều. Dưới đây là những mốc theo trung bình:
1 ly tiêu chuẩn được định nghĩa bao gồm:
2. Những ảnh hưởng ngắn hạn
Rượu – cụ thể là cồn trong rượu – được coi là một chất độc thần kinh và có thể ảnh hưởng lên não bộ theo cả trực tiếp và gián tiếp. Cồn trực tiếp đi vào trong máu ngay lập tức sau khi bạn uống rượu và chỉ mất dưới 5 phút để có thể đến não bộ. Trung bình, bạn mất khoảng 10 phút để bắt đầu cảm nhận được những ảnh hưởng đầu tiên của rượu.
Tác động đầu tiên và mạnh nhất xảy ra là quá trình giải phóng endorphin của não bộ. Đây là một hormone khiến bạn có cảm giác thoải mái và thư giãn. Điều này lý giải vì sao bạn uống rượu ở mức ít và trung bình sẽ giúp bạn thư giãn, thoải mái và còn cảm thấy hạnh phúc.
Khi bạn uống mức độ nhiều và tới mức say xỉn, cồn trong rượu có thể can thiệp vào đường truyền thông tin của não bộ và gây ảnh hưởng đến khả năng xử lý thông tin của não bộ. Một số ảnh hưởng ngắn hạn khác có thể kể đến như:
Khi bạn uống quá nhiều trong một khoảng thời gian ngắn, bạn có thể gặp phải tình trạng ngộ độc rượu. Điều này là do cồn vào trong máu và ảnh hưởng trực tiếp lên não quá nhanh, ảnh hưởng lên cả các chức năng cơ bản của cơ thể như:
Nếu không được điều trị kịp thời, tình trạng ngộ độc rượu có thể gây tổn thương não bộ nặng nề và có thể dẫn đến tử vong.
Tình trạng lạm dụng rượu bia trong thời gian dài có thể gây nên những ảnh hưởng lâu dài cho não bộ, bao gồm suy giảm các chức năng cũng như suy giảm trí nhớ.
Các nhà khoa học đã chứng minh rằng tình trạng teo não xảy ra phổ biến ở những người uống nhiều rượu. Thậm chí, một vài nghiên cứu gần đây còn tìm thấy bằng chứng cho việc uống rượu mức trung bình cũng có thể gây tình trạng này.

Cho dù uống rượu không gây chết tế bào não, nhưng nó cũng gây ra những ảnh hưởng lâu dài cho não. Việc uống rượu lâu dài có ảnh hưởng đến quá trình sản sinh tế bào thần kinh của cơ thể.
Việc uống quá nhiều rượu có thể dẫn đến tình trạng thiếu hụt vitamin B1 của cơ thể, kéo theo hội chứng Wernike-Korsakoff. Đây là hội chứng mất các nơ-ron thần kinh não, gây lú lẫn, mất trí nhớ và suy giảm cơ bắp.
Những ảnh hưởng lâu dài trên não bộ có thể trở thành nghiêm trọng, nhưng đa phần chúng vẫn có thể hồi phục trở lại nếu bạn dừng uống rượu. Thậm chí, quá trình teo não còn có thể hồi phục sau vài tuần nếu bạn ngừng sử dụng rượu.
4. Những ảnh hưởng lên sự phát triển của não bộ có thể kéo dài
Não là một cơ quan dễ bị ảnh hưởng bởi các tác động, và rượu có thể tác động đồng thời để khiến những ảnh hưởng này trở nên trầm trọng và dai dẳng hơn.

Việc sử dụng rượu trong thai kỳ có thể dẫn đến những tổn thương cho sự phát triển không chỉ của não bộ mà còn là các cơ quan khác của thai nhi. Chứng rối loạn thai nhi do uống rượu do quá trình phơi nhiễm với rượu từ khi trong bụng mẹ, có thể kéo theo các chứng bệnh lý khác như rối loạn phát triển thần kinh hay rối loạn hành vi thần kinh. Điều này có thể gây cho trẻ sau khi chào đời những vấn đề như kém học hỏi, chậm nói, kém tập trung, trí nhớ kém, thiểu năng trí tuệ, vận động tinh kém hay chứng tăng động.
Trong quá trình phát triển của trẻ ở lứa tuổi thiếu niên và vị thành niên, não bộ vẫn tiếp tục phát triển và hoàn thiện. Theo các nghiên cứu, việc sử dụng rượu ở lứa tuổi này có thể dẫn đến tình trạng teo não, khiến não nhỏ hơn so với những trẻ cùng độ tuổi.
Vùng thùy trán và phần não phải là phần thay đổi nhiều nhất trong những năm niên thiếu. Vùng này chịu trách nhiệm cho khả năng phán đoán, lập kế hoạch, ra quyết định, phát triển ngôn ngữ và kiểm soát hoạt động. Theo đó, rượu có thể ảnh hưởng tới tất cả các chức năng này và gây suy giảm trí nhớ, học tập.
Tổng kết
Rượu không gây chết tế bào não, nhưng nó có những ảnh hưởng riêng ngắn hạn và dài hạn cho não. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc uống nhiều rượu, thậm chí là mức trung bình cũng có thể gây nên những ảnh hưởng xấu tới não bộ. Do vậy, bạn nên kiểm soát việc sử dụng rượu của bản thân để tránh gặp phải các tác động tiêu cực cho sức khỏe.
Tham khảo thêm thông tin tại: Rượu bia có tác hại đối với tim mạch như thế nào?
Biotin được nhiều người truyền tai như một giải pháp giúp tóc mọc dày, chắc khỏe hơn. Vậy nên dùng chất dinh dưỡng này như thế nào?
Tết Trung thu là dịp lễ thiêng liêng của tình thân và sự sum vầy. Tuy nhiên, trước những thay đổi của cuộc sống hiện đại, việc làm thế nào để vừa gìn giữ nét đẹp truyền thống, vừa đảm bảo chế độ ăn uống khoa học, lành mạnh cho cả nhà đang là mối quan tâm của nhiều gia đình. Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin và đưa ra những lời khuyên hữu ích ngay sau đây.
Tiêm chủng là một trong những can thiệp y tế công cộng thành công và có hiệu quả nhất hiện nay, giúp cứu sống hàng triệu người mỗi năm. Tuy nhiên, tỉ lệ bao phủ vaccine toàn cầu đang gặp nhiều thách thức. Việc đảm bảo mọi trẻ em đều được tiêm chủng đầy đủ không chỉ bảo vệ sức khỏe cá nhân mà còn xây dựng một cộng đồng an toàn, đẩy lùi dịch bệnh.
Nhiều người thường ăn chuối để bổ sung kali. Tuy nhiên, quả ổi cũng chứa nhiều kali, vitamin C, đồng thời nổi bật với hàm lượng chất xơ và nhiều dưỡng chất khác.
Thưởng thức hải sản tươi ngon là trải nghiệm không thể thiếu khi đi biển vì chúng mang lại hương vị đại dương đặc trưng cùng nguồn dinh dưỡng dồi dào, tuy nhiên loại thực phẩm này cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro về ngộ độc và dị ứng nếu không được lựa chọn, bảo quản và chế biến đúng cách.
Mang thai là giai đoạn có nhiều thay đổi về nội tiết và tâm lý, một số phụ nữ có thể xuất hiện hoặc trở nặng tình trạng lo âu trong thời gian này.
Để tăng vị ngon và tăng tối đa lợi ích của cà phê, hãy tìm hiểu những cách pha chế này để nâng cao sức khỏe.
Trường mầm non là không gian lý tưởng để trẻ học tập và vui chơi, nhưng cũng là nơi tiềm ẩn nguy cơ cao lây nhiễm chéo các bệnh truyền nhiễm do hệ miễn dịch của trẻ còn non nớt và thói quen sinh hoạt tập thể gần gũi.