Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Các nguyên nhân gây huyết áp thấp

Không chỉ huyết áp cao mới là bệnh lí mà huyết áp thấp cũng có thể gây nhiều vấn đề đáng lưu ý. Vậy nguyên nhân gây ra huyết áp thấp là gì?

Các nguyên nhân gây huyết áp thấp

Huyết áp là áp lực của máu lên thành của động mạch trong giai đoạn hoạt động và nghỉ ngơi của mỗi nhịp tim.

  • Huyết áp tâm thu là áp lực của tim tạo ra khi bơm máu qua động mạch đi khắp cơ thể.
  • Huyết áp tâm trương là áp lực của máu lên thành động mạch khi tim nghỉ ngơi giữa 2 nhịp đập.

Theo những hướng dẫn hiện nay xác định là huyết áp thấp khi huyết áp trung bình dưới 120/80 mmHg.

 
Mặc dù bạn có thể đo được huyết áp chính xác tại bất kỳ thời điểm nào nhưng không phải là luôn luôn giống nhau. Nó có thể thay đổi đáng kể trong một khoảng thời gian ngắn - đôi khi chỉ trong khoảng cách giữa 2 nhịp tim, tùy thuộc vào tư thế, nhịp thở, mức độ căng thẳng, tình trạng sức khỏe, các thuốc mà bạn đang sử dụng, những gì bạn ăn và uống, và thậm chí cả thời gian trong ngày. Huyết áp thường thấp nhất là vào ban đêm và tăng mạnh khi thức dậy.

Huyết áp thấp

Mức huyết áp được coi là huyết áp thấp đối với bạn có thể là bình thường đối với một người khác. Hầu hết các bác sĩ đánh giá là huyết áp thấp mạn tính chỉ khi nó gây ra các triệu chứng đáng chú ý.

Một số chuyên gia xác định huyết áp thấp khi huyết áp tâm thu dưới 90 mmHg hoặc huyết áp tâm trương dưới 60 mmHg - bạn chỉ cần có 1 trong 2 huyết áp tâm thu hoặc huyết áp tâm trương thuộc phạm vi thấp hơn bình thường là đã được coi là huyết áp thấp. Nói cách khác, nếu huyết áp tâm thu của bạn là 115, nhưng huyết áp tâm trương của bạn là 50, bạn được đánh giá là có huyết áp thấp so với bình thường.

Hạ huyết áp đột ngột cũng có thể gây nguy hiểm. Ví dụ, thay đổi 20 mmHg - giảm từ 110 tâm thu đến 90 mm Hg huyết áp tâm thu - có thể gây chóng mặt và ngất xỉu khi não không được cung cấp đủ máu.

Tụt huyết áp nặng, đặc biệt là những người bị chảy máu không kiểm soát được, nhiễm khuẩn nặng hoặc sốc phản vệ, có thể đe dọa tính mạng.

Các vận động viên và những người tập thể dục thường xuyên có xu hướng có huyết áp thấp và nhịp tim chậm hơn những người không tập luyện.

Nhưng trong một số trường hợp hiếm gặp, huyết áp thấp có thể là một dấu hiệu của những rối loạn nghiêm trọng, thậm chí đe dọa tính mạng.

Nguyên nhân

Một vài vấn đề về y tế có thể gây huyết áp thấp, bao gồm:

Mang thai: Bởi vì thể tích tuần hoàn của phụ nữ mang thai tăng lên nhanh chóng nên huyết áp có thể giảm. Thông thường thì trị số huyết áp sẽ trở lại bình thường sau khi sinh.

 
Các vấn đề về tim mạch: Một vài vấn đề về tim mạch có thể gây huyết áp thấp do cơ thể không được cung cấp đủ máu bao gồm nhịp tim quá chậm, các bệnh lí van tim, nhồi máu cơ tim và suy tim.

Các vấn đề về nội tiết: bệnh lí tuyến giáp, tuyến cận giáp, suy thượng thận (bệnh Addison),hạ đường huyết và đôi khi bệnh tiểu đường có thể gây hạ đường huyết.

Mất nước: khi cơ thể bị mất nước, thậm chí chỉ là mất nước nhẹ, bạn cũng có thể cảm thấy yếu, chóng mặt và mệt mỏi. Sốt, nôn, tiêu chảy nặng, sử dụng quá liều thuốc lợi tiểu và luyện tập quá sức có thể dẫn đến mất nước.

Sốc giảm thể tích là một biến chứng nặng của mất nước, có thể đe dọa tính mạng. Nó xảy ra khi thể tích máu thấp gây tụt huyết áp đột ngột và giảm cung cấp oxy cho các mô. Nếu không được điều trị, sốc giảm thể tích nặng có thể gây tử vong trong vài phút hoặc vài giờ.

Mất máu: Mất máu do chấn thương hoặc chảy máu trong làm giảm lượng máu trong cơ thể có thể gây tụt huyết áp.

Nhiễm khuẩn huyết: Nhiễm khuẩn huyết xảy ra khi vi khuẩn xâm nhập vào máu. Tình trạng này có thể đe dọa tính mạng do tụt huyết áp vì sốc nhiễm khuẩn.

Sốc phản vệ: là tình trạng nặng và có thể đe dọa tính mạng. Các tác nhân gây sốc phản vệ bao gồm thức ăn, thuốc, côn trùng đốt, cao su. Nó có thể gây khó thở, phát ban, ngứa, phù thanh quản và tụt huyết áp.

Chế độ ăn thiếu dinh dưỡng: thiếu vitamin B12 và acid folic có thể làm cơ thể không sản xuất đủ hồng cầu (thiếu máu), gây huyết áp thấp.

Các thuốc có thể gây ra huyết áp thấp

Một số loại thuốc mà bạn đang sử dụng có cũng có thể gây ra huyết áp thấp, bao gồm:
  • Thuốc lợi tiểu như furosemide (Lasix) và hydrochlorothiazide (Microzide, Oretic)
  • Thuốc chẹn alpha, như prazosin (Minipress) và labetalol
  • Thuốc chẹn beta như atenolol (Tenormin), propranolol (Inderal, Innopran XL) và timolol
  • Thuốc điều trị bệnh Parkinson như pramipexole (Mirapex) hoặc những loại có chứa levodopa
  • Một số loại thuốc chống trầm cảm (thuốc chống trầm cảm ba vòng), bao gồm doxepin (Silenor), imipramine (Tofranil), protriptyline (Vivactil) và trimipramine (Surmontil)
  • Sildenafil (Viagra) hoặc tadalafil (Cialis), đặc biệt khi  kết hợp với nitroglycerin thuốc tim

Tham khảo thêm thông tin tại bài viết: Giải pháp điều trị bệnh huyết áp thấp

Bình luận
Tin mới
  • 30/10/2026

    Interferon là gì và những điều bạn cần biết khi điều trị bằng interferon

    Interferon là một loại protein được sản xuất trong phòng thí nghiệm, có khả năng hỗ trợ hệ miễn dịch chống lại một số bệnh nhiễm trùng và bệnh lý nhất định. Các loại thuốc interferon hoạt động tương tự như interferon tự nhiên do cơ thể sản xuất. Các bác sĩ thường sử dụng interferon để điều trị các bệnh nhiễm virus, một số loại ung thư và các tình trạng sức khỏe khác. Cùng tìm hiểu về interferon qua bài viết sau!

  • 30/10/2026

    7 cách giảm nguy cơ mắc bệnh Alzheimer

    Chưa có cách chữa khỏi bệnh Alzheimer, nhưng có thể chủ động bảo vệ sức khỏe não bộ, kiểm soát các yếu tố nguy cơ ngay từ sớm.

  • 30/10/2026

    Viêm da mùa đông

    Viêm da mùa đông (hay còn gọi là “winter rash”) là tình trạng da bị kích ứng, khô, ngứa, đỏ hoặc bong tróc xảy ra khi da phải chịu tác động của môi trường lạnh, khô và thay đổi từ bên ngoài vào.

  • 29/10/2026

    Bệnh xương đá ác tính thể nặng (SMO)

    Bệnh xương đá ác tính nặng (SMO) là một rối loạn bẩm sinh dẫn đến suy giảm quá trình tái tạo xương. Bệnh đôi khi được gọi là bệnh xương cẩm thạch hoặc bệnh xương đá ác tính ở trẻ sơ sinh (MIOP). Cùng tìm hiểu về bệnh lý này qua bài viết sau!

  • 29/10/2026

    Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10 – Mỗi gia đình là một “lá chắn”

    Không còn là căn bệnh của tuổi già, đột quỵ đang gia tăng nhanh chóng và trẻ hóa đáng báo động tại Việt Nam, để lại những hệ lụy nặng nề. Dù vậy, phần lớn các ca đột quỵ đều có thể phòng ngừa từ sớm nếu mỗi gia đình trở thành một phòng tuyến y tế chủ động. Nhân Ngày Đột quỵ Thế giới 29/10, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin giúp bạn biến tổ ấm thành "lá chắn" vững chắc bảo vệ hệ mạch máu và cuộc sống của cả gia đình.

  • 28/10/2026

    Trẻ bị viêm da cơ địa cần chuẩn bị gì khi vào đông?

    Viêm da cơ địa là bệnh da mạn tính thường gặp ở trẻ em, đặc trưng bởi tình trạng da khô, ngứa và tái phát nhiều đợt.

  • 28/10/2026

    Các bệnh thần kinh dễ gặp phải khi trời chuyển đông

    Mùa đông lạnh là thời điểm mà nhiều người cam thấy thoải mái với không khí se lạnh với những cơn gió mắt lành. Tuy nhiên đi cùng với đó là nhiều thách thức với sức khỏe, đặc biệt là các bệnh liên quan tới hệ thần kinh.

  • 27/10/2026

    Sơ cứu bỏng nhiệt và bỏng nước sôi đúng cách

    Bỏng nhiệt do nước sôi, dầu mỡ nóng, bô xe máy hay chạm vào vật nóng là tai nạn sinh hoạt vô cùng phổ biến tại mỗi gia đình. Việc xử trí sai lầm trong những phút đầu tiên có thể khiến tổn thương ăn sâu vào các lớp mô dưới da, gây nhiễm trùng huyết và để lại những vết sẹo vĩnh viễn.

Xem thêm