Hiểu lầm: Nếu bạn sinh mổ, bạn sẽ không thể có tiếp xúc da kề da với em bé
Sau khi sinh mổ, một số phần nhất định của cơ thể bạn có thể sẽ nhạy cảm hơn với việc đụng chạm, nhưng, không có lý do gì khiến bạn và em bé không thể tiếp xúc da kề da cả. Đôi khi, vấn đề chỉ là tìm ra một tư thế, vị trí thoải mái cho cả bạn và em bé mà thôi. Vùng có sẹo mổ có thể sẽ hơi căng tức nhưng cũng có rất nhiều vùng da khác mà bạn và em bé có thể tiếp xúc được với nhau.
Hiểu lầm: Việc cho con bú sau khi sinh mổ là rất khó
Cho con bú sữa mẹ từ vú hay bú qua bình hoàn toàn là quyết định của cá nhân bạn. Nhưng nếu bạn muốn cho con bú, thì việc sinh mổ sẽ không ảnh hưởng nhiều đến khả năng cho con bú của bạn. Cho con bú sau khi sinh mổ không quá khó, nhưng bạn sẽ cần phải kiên nhẫn hơn một chút. Có một sự thật là, các bà mẹ sinh mổ sẽ phải đợi lâu hơn một chút mới có thể cho con bú, so với những bà mẹ sinh thường.
Nhưng tin tốt là tỷ lệ cho con bú giữa nhóm bà mẹ sinh mổ và sinh thường là không có sự khác biệt trong khoảng thời gian từ 3-24 tháng sau sinh, theo Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ. Tuy vậy, sau khi sinh mổ, bạn có thể vẫn còn cảm thấy đau, nên bạn hãy thử nhiều cách khác nhau để bế, ôm em bé của mình. Nhiều chuyên gia khuyên rằng bạn nên thử kiểu ôm bón thay vì kiểu ôm ru ngang em bé ở phía trên bụng. Nếu bạn vẫn gặp khó khăn khi cho em bé bú ở tư thế này, bạn có thể hỏi ý kiến của bác sỹ, điều dưỡng chăm sóc để có một vài mẹo nhỏ giúp quá trình cho con bú của bạn dễ dàng hơn.
Hiểu lầm: Nếu bạn vừa sinh mổ, bạn sẽ không thể sinh thường trong lần sinh tiếp theo
Sinh mổ lần trước sẽ không làm bạn không thể sinh thường trong lần tiếp theo. Nếu bạn muốn sinh thường sau khi đã từng sinh mổ, bạn có thể sẽ phải trải qua quá trình thử chuyển dạ sau khi sinh mổ (TOLAC hay còn có tên tiếng anh là labor after cesarean). Quá trình thử nghiệm này sẽ xác định được liệu bạn sinh thường sau khi sinh mổ có an toàn hay không. Nhưng thông thường, kết quả là tương đối khả quan với đa số phụ nữ. Theo thống kê của Hiệp hội Sản phụ khoa Hoa Kỳ, khoảng 60-80% phụ nữ sau khi trải qua quá trình thử chuyển dạ sau khi sinh mổ có thể sinh thường một cách thành công. Nhìn chung, việc sinh mổ ở lần trước sẽ chỉ có ảnh hưởng rất nhỏ đến việc sinh thường trong tương lai.
Hiểu lầm: Sinh mổ chủ động ít rủi ro hơn sinh thường
Có rất nhiều lý do tại sao một phụ nữ phải sinh mổ thay vì sinh thường, đặc biệt là trong những trường hợp mang thai nguy cơ cao. Những lý do phổ biến nhất đó là mang đa thai, biến chứng xảy ra trong quá trình chuyển dạ hoặc sinh và nhiễm trùng.
Mặc dù vậy, các chuyên gia y tế thường khuyên rằng, phụ nữ nên sinh thường, nếu được. Bởi sinh mổ, dù là sinh mổ chủ động cũng nên rất cẩn trọng. Việc bạn quyết định được chính xác khi nào em bé sẽ chào đời là một việc rất tuyệt, tuy nhiên, bạn nên nhớ rằng, sinh mổ vẫn là một quy trình phẫu thuật, và sẽ có những nguy cơ nhất định, cũng như bất chứ một quy trình phẫu thuật xâm lấn nào khác. Mặc dù sinh mổ thường an toàn, nhưng, cũng như bất cứ loại phẫu thuật nào, cũng đều sẽ có nguy cơ mất máu, nhiễm trùng hoặc tổn thương các cơ quan xung quanh, ví dụ như tổnt hương bàng quang hoặc ruột non.
Hiểu lầm: Thời gian hồi phục sau sinh thường và sinh mổ là như nhau
Bạn nên tập đi lại nhẹ nhàng một chút sau khi sinh, cho dù là bạn sinh bằng phương pháp nào, nhưng việc sinh mổ sẽ khiến bạn cần phải được nghỉ ngơi nhiều hơn. Những phụ nữ sinh mổ thường chỉ được về nhà sau 3-5 ngày ở lại trong viện sau khi sinh, với quá trình hồi phục diễn ra trong khoảng 4 tuần. Phụ nữ sinh thường, ngược lại, có thể rời bệnh viện sau 1-2 ngày sau khi sinh và chỉ cần 1-2 tuần để hồi phục hoàn toàn.
Và cho dù sinh bằng phương pháp nào, bạn cũng cần tránh các hoạt động thể lực nặng, tránh nâng vật nặng và kiêng quan hệ tình dục một thời gian. Quá trình hổi phục là một quá trình cần đến rất nhiều sự hỗ trợ, giúp đỡ từ bạn bè và gia đình. Bạn vừa trải qua một cột mốc quan trọng của cuộc đời, do vậy, đừng ngần ngại khi yêu cầu sự giúp đỡ của người thân.
Hiểu lầm: Bạn chỉ có thể trải qua một số lượng cuộc mổ đẻ nhất định
Không có một định nghĩa nào về số lượng cuộc mổ đẻ bạn có thể trải qua. Bạn có thể trải qua nhiều cuộc mổ đẻ trong suốt cả đời hoặc bạn có thể chỉ có một cuộc mổ đẻ trong cả đời, điều đó phụ thuộc hoàn toàn vào mỗi lần mang thai của bạn. Tuy nhiên, mỗi lần mổ đẻ sẽ đi kèm với những nguy cơ khác nhau. Mayo Clinic chỉ ra rằng, bạn có thể có sẹo tử cung, tổn thương bàng quang và tổn thương ruột, chảy máu và những biến chứng về nhau thai đi kèm với quá trình sinh mổ.
Hiểu lầm: Bạn sẽ không cảm thấy bất cứ điều gì trong suốt quá trình sinh mổ
Với việc được gây mê, thường thì bạn sẽ không cảm nhận được cảm giác đau nhưng bạn đôi khi vẫn có thể cảm nhận được việc tăng áp lực hoặc bị giật một chút trong quá trình sinh mổ. Buồn nôn và nôn mửa trước hoặc sau khi sinh mổ cũng là một hiện tượng tương đối phổ biến. Một báo cáo tổng hợp từ nhóm Cochrane nghiên cứu về mang thai và trẻ em giải thích rằng, những triệu chứng này có thể là hậu quả của việc hạ huyết áp của phụ nữ hoặc của việc dùng thuốc gây mê trong quá trình sinh mổ.
Tăng cường miễn dịch đúng cách là một lộ trình dài hạn dựa trên việc giảm thiểu stress oxy hóa và duy trì hoạt động ổn định của các tế bào lympho. Các nghiên cứu về dược liệu học gần đây đã chỉ ra rằng, các hợp chất sinh học có trong thảo mộc truyền thống như Kim ngân hoa, Cúc hoa hay Cam thảo không chỉ có khả năng trung hòa gốc tự do mà còn hỗ trợ điều hòa các chất trung gian gây viêm.
Dù cơ thể có thể tự sản sinh vitamin D từ ánh nắng mặt trời nhưng thực phẩm cũng là một nguồn cung cấp vitamin D quan trọng giúp bù đắp sự thiếu hụt vitamin D trong những tháng thiếu nắng mùa đông.
Khi trời trở lạnh, việc đau thần kinh tọa sẽ trở nên vô cùng đau đớn, đôi lúc còn có chuyển biến xấu. Thời tiết lạnh có thể làm các cơ cột sống của bạn co cứng lại, và cơn đau của bạn có thể trầm trọng hơn do áp suất khí quyển và căng thẳng thể chất. May mắn thay, có những bước bạn có thể thực hiện để giúp giảm đau thần kinh tọa.
Bệnh mạn tính không lây (non-communicable diseases - NCDs) là nhóm bệnh bao gồm các bệnh như bệnh tim mạch, đột quỵ, tiểu đường type 2, bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD), rối loạn mỡ máu, béo phì, một số loại ung thư, hen… Bệnh mạn tính không lây là nguyên nhân tử vong và tàn phế hàng đầu ở nhiều quốc gia và đặt gánh nặng lớn lên hệ thống y tế và xã hội.
Trái với nỗi sợ tăng cân, khoa học chứng minh việc ăn các loại hạt giúp giảm cân, đánh bay mỡ thừa hiệu quả hơn các chế độ ăn kiêng khắt khe. Bí mật nằm ở cơ chế chuyển hóa đặc biệt, kích hoạt quá trình đốt mỡ tự nhiên mà ít ai biết tới.
Ợ nóng là cảm giác đau rát ở ngực, thỉnh thoảng xuất hiện, hoặc trở nên tồi tệ hơn sau khi ăn, vào ban đêm, khi nằm xuống hoặc cúi người. Đây là một triệu chứng của bệnh trào ngược dạ dày thực quản (GERD).
Trái cây vẫn có thể xuất hiện trong thực đơn của người bệnh tiểu đường nếu lựa chọn đúng loại và kiểm soát khẩu phần. Các chuyên gia khuyến nghị ưu tiên thực phẩm có chỉ số đường huyết (GI) thấp để hỗ trợ ổn định glucose máu.
Giai đoạn chuyển mùa từ đông sang xuân tại miền Bắc thường xuất hiện hiện tượng nồm ẩm và mưa phùn, khiến độ ẩm tăng cao và tạo điều kiện cho vi khuẩn, nấm mốc phát triển mạnh. Kiểu thời tiết này đặc biệt nguy hiểm đối với trẻ em, người cao tuổi và những người có bệnh lý nền, do các bệnh về đường hô hấp dễ dàng bùng phát và trở nặng. Nhằm giúp người dân chủ động bảo vệ sức khỏe, Viện Y học ứng dụng Việt Nam sẽ chia sẻ thông tin về các biện pháp khoa học và thiết thực nhất ngay dưới đây.