Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Thuốc chữa bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh có đặc điểm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường xuyên bị hạn chế không hồi phục hoặc chỉ hồi phục một phần.

Bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính (COPD) là một bệnh có đặc điểm tắc nghẽn lưu lượng khí thở ra thường xuyên bị hạn chế không hồi phục hoặc chỉ hồi phục một phần. Bệnh tiến triển, thường có tăng phản ứng đường thở, do viêm phế quản mạn tính và khí phế thũng gây ra.

Bệnh COPD là biến chứng của viêm phế quản mạn tính, khí phế thũng và hen phế quản ở mức độ không hồi phục.

Theo một vài nghiên cứu, ở Mỹ có hàng chục triệu người mắc bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính với tỷ lệ dao động từ 4-6% ở nam và 1-3% ở nữ giới da trắng tuổi trưởng thành; ở châu Âu, chỉ số lưu hành của bệnh phổi tắc nghẽn mạn tính từ 23-41% ở những người nghiện thuốc lá, tỷ lệ nam/nữ là 10/1. COPD gây tử vong đứng hàng thứ 5 trong các nguyên nhân gây tử vong trên thế giới. Ở Pháp, tử vong do  COPD là khoảng 20.000 người mỗi năm.

Biểu hiện của COPD

Bệnh COPD chủ yếu gặp 2 thể: thể hồng thổi và thể xanh phị.

Thể thổi hồng: khí phế thũng chiếm ưu thế, có các đặc điểm là người bệnh gầy, khó thở là chủ yếu, ít ho khạc đờm, ít bị nhiễm khuẩn phế quản, tâm phế mạn xuất hiện muộn (thường bị ở giai đoạn cuối), phù không rõ, bệnh nhân có ngực hình thùng, rút lõm cơ ức đòn chũm, gõ vang, nghe phổi rì rào phế nang giảm. Đo thông khí phổi, khí cặn tăng rõ, khí máu bình thường, chỉ giảm nhẹ PaO2. Trên phim chụp Xquang thấy phổi căng giãn, tim hình giọt nước.

Thể xanh phị: viêm phế quản mạn tính chiếm ưu thế, thường gặp ở người béo bệu; da bệnh nhân tím tái; ho khạc đờm nhiều năm rồi mới khó thở; bệnh nhân thường bị nhiễm khuẩn phế quản, hay gặp những đợt suy hô hấp; tâm phế mạn xuất hiện sớm: phù mắt cá chân, gan to, tĩnh mạch cổ nổi, thường kèm theo hội chứng ngừng thở tắc nghẽn khi ngủ. Chụp phim Xquang có hình ảnh phổi bẩn, bóng tâm thất phải rộng. Đo khí máu: giảm PaO2, thường kèm theo tăng PaCO2, tăng hồng cầu và Hematocrit.

Chẩn đoán xác định bệnh thường dựa vào các triệu chứng: bệnh nhân trên 40 tuổi, thường là nam giới, tiền sử có hút thuốc lâu năm; ho và khạc đờm, khó thở trên 2 năm; tiền sử hay có đợt nhiễm khuẩn hô hấp cấp tính; chụp Xquang phổi: có thể có hội chứng phế quản, khí phế thũng; đo thông khí phổi: tắc nghẽn lưu lượng thở không hồi phục.

Các nhóm thuốc điều trị COPD

Thuốc kháng sinh: trong đợt bùng phát phải chống nhiễm khuẩn phế quản khi có dấu hiệu nhiễm khuẩn, có thể dùng kháng sinh nhóm cephalosporin kết hợp với gentamyxin. Khi có điều kiện nên làm kháng sinh đồ để sử dụng thuốc kháng sinh kết hợp. Dùng thuốc giãn phế quản, thuốc kháng cholinergic (atrovent) điều trị triệu chứng. Nếu khó thở nặng có thể dùng diaphylin, cocticoid, khí dung (pulmicort), dùng thuốc long đờm, vỗ rung, cho bệnh nhân thở ôxy. Trường hợp có suy hô hấp nặng, bệnh nhân rối loạn ý thức, tím tái, toan hô hấp mất bù cần phải thở máy. Nếu bệnh nhân có tâm phế mạn thì phải điều trị suy tim kết hợp.

Thuốc kích thích bêta 2: loại có tác dụng ngắn như albuterol, pirbuterol, terbutaline, metaproterenol... nhóm thuốc này có ưu điểm là ít tác dụng phụ trên nhịp  tim và huyết áp; thời gian bắt đầu tác dụng sau khi uống từ 5-15 phút, kéo dài 4-6 giờ. Tùy theo tình trạng của bệnh nhân có thể dùng loại thuốc có tác dụng dài như albuterol phóng thích chậm và salmeterol dạng hít, thời gian bắt đầu tác dụng: 15-30 phút, kéo dài 12 giờ.

Thuốc anticholinergic: (Irpatropium bromide) loại này có thời gian bắt đầu tác dụng 30-60 phút, kéo dài 4-6 giờ.

Theophyllin: thuốc giãn phế quản tác dụng yếu, có lợi ích trên việc làm tăng thông khí, tăng co bóp cơ hoành và tăng cung lượng tim hơn là tác dụng giãn phế quản. Cần theo dõi nồng độ thuốc trong máu ở người già, bệnh nhân có suy tim, suy thận và suy gan. Tương tác thuốc cần lưu ý: các thuốc như nhóm macrolid, quinolones, propranolol nếu dùng đồng thời với theophylline có thể làm kéo dài thời gian bán hủy của theophylline.

Glucocorticoid: (thường dùng prednisone) được dùng điều trị COPD giai đoạn 3 đáp ứng không đầy đủ với điều trị phối hợp các loại thuốc giãn phế quản.

Thuốc ức chế alpha 1-antitrypsin: nên dùng điều trị ở bệnh nhân trên 18 tuổi; có bằng chứng thiếu men alpha 1-trypsin; có tắc nghẽn dòng khí; đã ngưng hút thuốc. Liệu pháp a1 antitrypsin, sử dụng thuốc kháng men protease tổng hợp (prolastin) tác dụng ức chế elastase bạch cầu.

Ngoài ra để điều trị COPD, còn dùng phương pháp phẫu thuật để ghép phổi, phẫu thuật cắt bỏ bóng khí thũng, phẫu thuật giảm thể tích phổi.

Để phòng bệnh, bệnh nhân cần bỏ thuốc lá, tăng cường chế độ dinh dưỡng; nên cho bệnh nhân dùng các vitamin A, C, E giúp nâng cao thể trạng; cố gắng giảm ô nhiễm không khí ở nơi làm việc và nơi ở...

ThS. Nguyễn Hoàng Lan - Theo SKĐS
Bình luận
Tin mới
  • 19/01/2018

    Tiêm nhiều loại vắc-xin trong một buổi có an toàn cho trẻ?

    Theo lịch tiêm chủng cho trẻ em, một số loại vắc-xin được tiêm chủng trong cùng một buổi tiêm chủng hoặc do trì hoãn tiêm chủng theo lịch, một số trẻ được chỉ định tiêm bù, có thể dùng từ hai loại vắc-xin trong một buổi tiêm chủng. Một số cha mẹ bày tỏ băn khoăn khi cùng lúc dùng nhiều vắc-xin.

  • 19/01/2018

    Các nhiễm khuẩn đường sinh sản và bệnh lây qua đường tình dục

    Các nhiễm khuẩn đường sinh sản tác động chủ yếu vào các cơ quan sinh sản và sinh dục. Bao gồm các bệnh lây qua đường tình dục và các nhiễm khuẩn đường sinh sản do sự phát triển quá mức của các vi khuẩn bình thường có trong âm đạo, như viêm âm đạo do trực khuẩn và viêm âm đạo do nấm Candida.

  • 19/01/2018

    Rách tầng sinh môn khi sinh

    Mang thai và sinh nở là một trải nghiệm tuyệt vời, đặc biệt là với những phụ nữ lần đầu làm mẹ. Tuy nhiên, quá trình này sẽ đi kèm với một số hiện tượng không mong muốn, ví dụ như rách tầng sinh môn.

  • 19/01/2018

    Một số tiến bộ trong điều trị bệnh lý tim mạch

    Bệnh lý Tim mạch đã và đang là bệnh thường gặp nhất ở các nước phát triển cũng như đang phát triển, là một trong những nhóm bệnh có tỷ lệ tử vong rất cao. Đặc biệt là tăng huyết áp với khoảng 17,5 triệu người tử vong mỗi năm vì các biến chứng của bệnh trên Thế giới. Hơn thế nữa, bệnh lý tim mạch có nhiều biến chứng nặng nề không những ảnh hưởng đến chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân mà còn là gánh nặng cho xã hội và gia đình, chi phí cho chăm sóc và điều trị cũng rất tốn kém.

  • 19/01/2018

    Biến chứng của HIV

    Cách tốt nhất để phòng tránh những biến chứng của HIV là bắt đầu điều trị sớm và tuân thủ điều trị. Cùng với đó là sống lối sống khỏe mạnh: ăn uống khoa học, luyện tập thể thao và cai thuốc lá.

  • 19/01/2018

    Khối u mô đệm đường tiêu hóa

    Khối u mô đệm đường tiêu hóa là các khối u hoặc một nhóm các tế bào tăng sinh phát triển tại hệ tiêu hóa. Hệ tiêu hóa là hệ cơ quan chịu trách nhiệm tiêu hóa, hấp thu thực phẩm và các chất dinh dưỡng. Hệ tiêu hóa bao gồm thực quản, dạ dày, ruột non, và ruột già.

  • 19/01/2018

    Giới trẻ với quả bóng cười: Khi người thân khóc

    Chủ đề về khí cười (N2O) gần đây đã được nhiều báo chí khai thác dưới khía cạnh một chất giải trí và ảnh hưởng của nó đến xã hội. Trong phạm vi bài viết này, sẽ đề cập đến khí cười dưới góc nhìn y học về cả ứng dụng cũng hệ quả không mong muốn của nó.

  • 19/01/2018

    Duy trì một khung xương chắc khỏe cho nam giới

    Khi bước vào tuổi trung niên, hệ xương khớp đã bắt đầu thoái hóa. Vì vậy chăm sóc sức khỏe xương khớp cần được thực hiện từ sớm chứ không phải đợi đến ngưỡng 40.

Xem thêm