Tổng hội y học Việt Nam

Viện y học ứng dụng Việt Nam
ứng dụng y học vì sức khỏe người việt nam

Phân loại, đặc điểm của các nhóm đồ uống và lợi ích/hạn chế đối với sức khỏe

Đồ uống là nguồn cung cấp nước chính cho cơ thể, đóng góp khoảng 70-80% nhu cầu nước một ngày (thực phẩm chỉ đóng góp khoảng 20-30% nhu cầu).

Phân loại, đặc điểm của các nhóm đồ uống và lợi ích/hạn chế đối với sức khỏe

I.         Vai trò của đồ uống với sức khỏe con người:

Đồ uống là nguồn cung cấp nước chính cho cơ thể, đóng góp khoảng 70-80% nhu cầu nước một ngày (thực phẩm chỉ đóng góp khoảng 20-30% nhu cầu).

Nước là một trong những thành phần cơ bản của sự sống, chiếm khoảng 1/2 trọng lượng cơ thể của người trưởng thành. Nước thực hiện 4 chức năng chính trong cơ thể:

  • Là dung môi của các phản ứng hóa học trong cơ thể,
  • Là chất phản ứng hóa học của nhiều phản ứng sinh hóa,
  • Là chất bôi trơn,
  • Là chất điều hòa nhiệt độ.

Những loại đồ uống mới hiện nay không chỉ cung cấp nước mà còn cung cấp một số chất giúp cơ thể chống lại sự mệt mỏi, tăng sự tỉnh táo, bổ sung một phần năng lượng và muối khoáng.

II.        Các nhóm đồ uống chính

Theo Tổ chức nông lương thế giới (FAO), các sản phẩm nước nước uống được chia ra làm hai loại: đồ uống có cồn (gồm đồ uống có cồn lên men từ hoa quả và đồ uống có cồn lên men từ ngũ cốc, có thể chưng cất hoặc không) và không có cồn (bao gồm nước ngọt, trà, cà phê).

 

III.      Tiêu thụ đồ uống trên toàn cầu. Lợi ích/hạn chế của từng nhóm đồ uống

  1. Nước đóng chai

Nước đóng chai được coi là loại nước tiện dụng, nhanh chóng bù đắp lượng dịch đã mất. Xu hướng lựa chọn nước đóng chai đang tăng dần lên ở Mỹ và Canada là những nước có cơ sở hạ tầng về nước phát triển trên thế giới. Nước đóng chai theo đúng tiêu chuẩn phải trải qua những quy trình lọc cặn thô, khử sắt, mangan; làm mềm khử khoáng, khử màu, khử mùi, cân bằng pH; lọc tinh bằng màng thẩm thấu hoặc màng nano, cuối cùng là tái diệt khuẩn bằng tia cực tím. Tuy nhiên không phải lúc nào nước đóng chai cũng phát huy được hết ưu điểm của chúng. Một nghiên cứu cho thấy các chai nhựa đựng nước thải ra một lượng nhỏ hóa chất trong một thời gian dài. Nước càng giữ lâu trong chi nhựa thì nồng độ càng cao. Nguyên liệu để làm chai nước là polyethylene terephtalein (PET) có nguồn gốc từ dầu mỏ nên vẫn có thể những hóa chất độc hại vẫn tan vào nước nếu như lưu trữ lâu. Ví dụ nồng độ chất antimony có trong những chai nước để lâu có thể gây ra nôn, buồn nôn, chóng mặt với liều lượng nhỏ và có thể gây ra tử vong ở liều lượng lớn. Nguồn nước đóng chai chưa chắc đã đảm bảo và là nguồn nước sạch. Thêm vào đó nếu quy trình xử lý không đảm bảo thì nước đóng chai sẽ không tinh khiết được như các nước khác. Ví dụ như phương pháp khử trùng bằng UV đạt hiệu quả nhất trong việc xử lý độ trong của nước, điều mà trước đây chỉ có được bằng cách chưng cất nước. Các hạt lơ lửng là một vấn đề bởi vì các vi sinh vật được bao bọc bên trong các hạt này và được bảo vệ khỏi tia UV vì vậy không bị ảnh hưởng bởi tia UV. Cho nên, phương pháp chiếu UV kết hợp với lọc sơ bộ để loại bỏ những vi sinh vật lớn hơn - những vi sinh mà không bị tác động bởi tia UV.

Các quốc gia trên thế giới có xu hướng sử dụng các loại nước giải khát khác nhau. Châu Mỹ La tinh là khu vực tiêu thụ nhiều nước có ga nhất, Trung Đông là nơi tiêu thụ nhiều trà và cà phê nhất, trong khi Đông Âu lại là nơi tiêu thụ nhiều đồ uống có cồn. Cụ thể:

 

*Nguồn: Euromonitor International, Michael Schaefer & Jonas Feliciano,  Soft drink in 2013: The quest for growth in a multi-polar world

2.         Đồ uống có cồn:

Một tập hợp 34 nghiên cứu với tổng số 1 triệu đối tượng của Di Castelnuovo và cộng sự năm 2006 nghiên cứu mối tương quan giữa việc tiêu thụ đồ uống có cồn và tỉ lệ tử vong cho thấy tiêu thụ đồ uống ở mức hơn 40g alcohol/ngày sẽ làm tăng nguy cơ tử vong (theo biểu đồ hình chữ J). Theo thống kê của Tổ chức Y tế thế giới (WHO) năm 1992, lạm dụng rượu bia là nguyên nhân gây ra 30 mã bệnh thuộc hệ thống phân loại ICD10 và là nguyên nhân liên quan của 200 mã bệnh. Cũng theo thống kê của WHO, số người tử vong vì sử dụng đồ uống có cồn đạt tới con số 3,3 triệu  người tử vong/năm, và đồ uống có cồn là nguyên nhân góp phần gây ra 5,9% tỷ lệ chết chung.

Tính theo từng khu vực, việc lạm dụng rượu bia có thể khiến mỗi người mất đi từ 0,6 năm sống cho đến khoảng 12,8 năm sống, và trung bình trên thế giới là mất đi 5,1 năm sống. Hay nói cách khác, dễ hiểu hơn, trung bình, việc lạm dụng rượu bia có thể làm giảm đi khoảng 5 năm tuổi thọ của con người.

 

3.         Đồ uống không có cồn

3.1.      Nước ngọt có ga

Trên toàn cầu: Theo thống kê năm 2012, nước uống đóng chai (water) vẫn là loại nước giải khát được tiêu thụ chính trên toàn cầu (242 tỷ lít), xếp thứ 2 là nước uống có gas (với con số xấp xỉ lượng nước đóng chai: 220 tỷ lít). Con số này lớn hơn rất nhiều so với lượng nước ép trái cây được tiêu thụ (xếp hàng thứ 3, tương đương chỉ 71 tỷ lít trên toàn cầu). Số liệu thụ thể được trình bày trong bảng dưới đây (Nguồn: Euromonitor International, Michael Schaefer & Jonas Feliciano, Soft drink in 2013: The quest for growth in a multi-polar world)

Loại nước giải khát

Số lượng (tỷ lít)

Nước uống đóng chai

242

Nước uống có gas

220

Nước ép trái cây

71

Trà pha sẵn

35

Nước uống tăng lực

17

Cà phê pha sẵn

4,5

Xu hướng tiêu thụ nước uống đóng chai và nước ngọt có ga cũng đang có những thay đổi lớn. Ở Mỹ, trong 10 năm qua, lượng nước ngọt tiêu thụ đã giảm khoảng 25%, lượng nước đóng chai tăng khoảng 50% và cho đến thời điểm này lượng tiêu thụ là gần tương đương.

Đặc điểm của nước ngọt có ga: Nước giải khát có ga, còn gọi là nước ngọt có ga hay nước ngọt là một loại thức uống chứa nước, cacbon dioxide bão hòa, chất làm ngọt, và hương liệu. Chất làm ngọt ở đây có thể là đường, siro giàu fructose, nước ép trái cây, hoặc có thể kết hợp với nhiều loại trên.

Lịch sử đồ uống có ga hình thành từ việc phát hiện ra nguồn nước khoáng tại các suối ngầm tự nhiên. Từ lâu, việc tắm suối nước nóng đã được coi là có lợi cho sức khỏe và có khả năng chữa bệnh. Bởi vậy các dược sĩ Mỹ bắt đầu bào chế thêm một số loại hương vị khác nhau cho vào loại nước CO2 bão hòa này. Trên cơ sở nhu cầu sử dụng thuận tiện tại nhà của khách hàng, nước soda bổ sung hương liệu đã được bắt đầu đóng chai, là tiền đề cho ngành công nghiệp đồ uống đóng chai phát triển. Năm 1892, tác giả William Painter đã thành công trong việc sáng chế rất hiệu quả để giữ CO2 trong chai thủy tinh. Hiện nay có hàng nghìn nhãn hiệu nước uống có ga với sản lượng lên đến hàng tỉ chai mỗi ngày ở gần 200 quốc gia.

Hạn chế của nước ngọt có ga: Nước ngọt là nguyên nhân gây ra nhiều bệnh:

-         Béo phì: Theo thống kê, tiêu thụ 1 lon nước ngọt có ga mỗi ngày có thể làm tăng 6,75kg cân nặng trong một năm.

-         Sâu răng: Uống nước ngọt có ga thường xuyên sẽ làm tăng nguy cơ bị sâu răng và hỏng men răng.

-         Tiểu đường, bệnh tim mạch, bệnh thận, gout: một lon nước ngọt 600ml chứa lượng đường tương đương 36g. Mỗi ngày uống một lon nước ngọt 600ml, trong một năm, sẽ tiêu thụ thêm 23 kilogram đường. Lượng đường này trong các loại nước uống tăng lực là 24g/ 1lon 250ml. Tiêu thụ quá nhiều đường là nguyên nhân góp phần gây béo phì - yếu tố nguy cơ của nhiều bệnh mạn tính như tiểu đường, tim mạch,…

-         Loãng xương: do có chứa axit phosphoric và lượng phosphate cao.

-         Ảnh hưởng đến bệnh hen và hệ thống sinh sản: do có chứa natri benzoate và BPA.

3.2.      Nước hoa quả

Nước hoa quả được ép từ hoa quả hoặc rau củ tự nhiên. Từ thế kỷ thứ 11, người châu Âu đã nghĩ ra cách lên men nước hoa quả để tăng hương vị cho nước ép và phổ biến ở các vùng Scandinavia, Iceland, Greenland và nước Anh. Ngành công nghiệp nước hoa quả ra đời từ năm 1869 khi công ty đầu tiên sản xuất là Welch ở New Jersey- Mỹ. Ban đầu, Công ty này chỉ sản xuất nước ép nho không lên men đóng chai. Sau đó bắt đầu sản xuất nước hoa quả theo kiểu công nghiệp hóa.

Lợi ích: Giải pháp thay thế đơn giản cho những người không thích hoặc không có điều kiện ăn rau quả trực tiếp và cũng là cách đảm bảo uống đủ lượng nước cần thiết hàng ngày. Hàm lượng dinh dưỡng cao, chứa vitamin (như vitamin A, vitamin nhóm B, vitamin C) và các chất khoáng tốt cho sức khỏe (như đồng, magie, kali) và là nguồn cung cấp axit folic tốt. Nước hoa quả dễ hấp thu dưỡng chất hơn là ăn hoa quả trực tiếp. Góp phần bổ sung đủ lượng trái cây khuyến nghị một ngày, hơn 100 ml nước ép bằng một phần hoa quả khuyến nghị cho một ngày. Cũng giống như trái cây, nước hoa quả cũng có chứa môt lượng nhất định chất chống oxy hóa tốt cho sức khỏe. Các chất chống oxy hóa có trong nước hoa quả có thể giúp tăng cường chức năng miễn dịch, dự phòng một số bệnh ung thư, cải thiện lưu lượng máu và tuần hoàn, giảm huyết áp, chống viêm, duy trì cholesterol ở mức ổn định.

Hạn chế: nếu so sánh giữa nước hoa quả và hoa quả nguyên miếng, thì hoa quả nguyên miếng sẽ có nhiều dinh dưỡng và tác động lên sức khỏe tốt hơn. Nước hoa quả thường chỉ lấy các chất dinh dưỡng quan trọng và bỏ đi chất xơ – vốn là một chất dinh dưỡng rất quan trọng trong trái cây. Khi ép nước trái cây, đường trong trái cây cũng sẽ chuyển hóa mau hơn, làm đường huyết tăng nhanh hơn so với ăn trái cây nguyên miếng. Đường huyết cũng có thể tăng đáng kể nếu uống nước ép được làm từ các loại rau hoặc trái cây nhiều đường (như củ cải đường hoặc cà rốt) hoặc nước hoa quả công nghiệp bổ sung đường. Trung bình có 140 calo có trong 250 ml nước ép hoa quả. Do vậy uống nước hoa quả không phải là một cách để thải độc cơ thể (detox) hoặc có tác dụng giảm cân giữ dáng. Nước quả công nghiệp cũng có thể gây thừa calo nếu tiêu thụ quá nhiều và có thể có chứa hương liệu, chất bảo quản, chất tạo ngọt nhân tạo. Do nhiều đường và axit nên nước hoa quả có thể gây sâu răng và tăng nguy cơ béo phì. Ví dụ nước ép bưởi có chứa lượng đường cao hơn 50% so với nước coca.

BS. TS. Trương Hồng Sơn phát biểu tại Hội nghị "Đồ uống và sức khỏe" ngày 4/4/2017
3.3       Trà

Trà có nguồn gốc từ Trung Quốc. Người Trung Quốc uống trà từ cách đây 5000 năm. Sau đó trà được phát triển nhanh chóng và xuất hiện ở tất cả các châu lục. Hiện nay, theo thống kê, có hơn 3 tỷ cốc trà được mọi người tiêu thụ mỗi ngày.

Các loại trà phổ biến trên thế giới bao gồm trà xanh, trà đen, trà ô long và trà trắng.

Tiêu thụ trà trên thế giới:

  • 3 tỷ cốc trà được tiêu thụ mỗi ngày trên toàn thế giới.
  • Cứ 5 trong 6 người Mỹ có thói quen uống trà. Người Mỹ tiêu thụ khoảng 1,4 triệu pound trà mỗi ngày (tương đương hơn 635 tấn trà).
  • Trà đen là loại trà được uống nhiều nhất trên thế giới (82%). Trà xanh chỉ chiếm 17% còn lại là các loại trà khác.
  • Ấn Độ mới là quốc gia sản xuất ra nhiều trà nhất trên thế giới, sau đó là Trung Quốc.

Đặc điểm của trà: Trà đen là loại trà mà lá trà được oxy hóa hoàn toàn (được tiếp xúc với không khí giàu độ ẩm và giàu oxy), trong khi trà xanh cũng được làm từ cùng loại lá trà này nhưng chỉ được oxy hóa một phần. Trà Ô long là loại trà được oxy hóa với mức độ ở giữa trà xanh và trà đen.

Lượng chất chống oxy hóa trong mỗi cốc trà tương đương với một cốc rượu vang đỏ. Trong một tách trà có từ 10-40 mg caffein tùy thuộc vào loại trà. Trong khi đó lượng caffein có trong những nhãn hiệu cà phê lớn trên thế giới có chứa khoảng 250 mg.

Các chất chống oxy hóa chủ yếu trong trà nói chung bao gồm polyphenol và catechin.  Đây là những chất chống oxy hóa có tác dụng bảo vệ ADN và các tế bào. Các tác dụng của trà:

  • Chống lão hóa: Các gốc tự do được tạo ra trong các quá trình sinh lý bình thường của cơ thể, chẳng hạn như khi thực phẩm được biến đổi thành năng lượng, khi tập thể dục hoặc tiếp xúc với ánh sáng mặt trời, ô nhiễm không khí, khói thuốc lá, hoặc bia rượu. Tuy nhiên khi được sản sinh ra với hàm lượng cao các gốc tự do này sẽ phản ứng với protein, lipid, ADN và gây ra một loạt phản ứng dây chuyền, gây tổn thương các tế bào và ADN, thậm chí gây chết tế bào. Trong thành phần của trà xanh có chứa các flavonoid, có tác dụng trung hòa các gốc tự do và do vậy làm chậm quá trình lão hóa.
  • Tác động lên hệ thống thần kinh: uống trà có thể phòng chống Alzheimer và Parkinson.
  • Giảm nguy cơ bệnh tim mạch: Uống 6 cốc trà mỗi ngày sẽ giảm được nguy cơ bị bệnh tim mạch, xơ vữa động mạch do có thể làm giảm được lượng cholesterol xấu LDL.
  • Tác dụng lợi tiểu, đào thải độc tố, kháng khuẩn.
  • Ngoài ra, uống trà mỗi ngày duy trì đường huyết ổn định, an thần, thư giãn, ngăn ngừa được sự phát triển của các mầm bệnh ung thư, phòng chống bệnh tiểu đường, tăng cường hệ miễn dịch, cải thiện sức khỏe răng miệng. Một nghiên cứu trên 40.530 người Nhật Bản uống nhiều hơn 5 cốc trà xanh mỗi ngày cho thấy những người này có nguy cơ tử vong ít hơn so với những người khác.

3.4.      Trà thảo mộc:

Trong những năm gần đây, xu thế chung của thế giới và cũng là xu thế tại Việt Nam, nước uống được chế biến từ thảo mộc đang bắt đầu thay thế dần nước uống có gas và nhiều loại nước giải khát khác. Nhu cầu sử dụng đồ uống thảo mộc trong đời sống hàng ngày của người dân của một số quốc gia trong khu vực đã cho thấy sự tăng trưởng ngoạn mục: xấp xỉ 30-50%. Ở nhiều quốc gia như Nhật Bản, Hàn Quốc, Trung Quốc, trà làm từ các loại thảo mộc được sử dụng rất phổ biến. Trà thanh nhiệt Dr. Thanh là một trong số những loại trà được ưa chuộng và đã được chứng minh có thể có nhiều tác dụng đối với sức khỏe.

Lợi ích: Do có chứa 9 loại thảo mộc, vốn là các vị thuốc quý trong dân gian (Kim ngân hoa, Cúc hoa, La hán quả, Hạ khô thảo, Cam thảo, Đản hoa, Tiên thảo, Hoa mộc miên, Bung lai) trà thanh nhiệt Dr.Thanh có thể có rất nhiều lợi ích với sức khỏe:

  • Tác dụng chống viêm thông qua các cơ chế: ức chế các chất trung gian gây viêm, ức chế hoạt động của các chất tiền viêm và ức chế hoạt động của các yếu tố nhân kappa B. Các loại thảo mộc có tác dụng chống viêm chính: Kim ngân hoa, Hạ khô thảo, Cam thảo.
  • Tác dụng chống oxy hóa do có chứa các chất chống oxy hóa mạnh, có khả năng thu nhặt các gốc tự do, kích thích hoạt động của các enzym chống oxy hóa và làm giảm tổn thương do quá trình oxy hóa gây ra. Các chất chống oxy hóa mạnh chủ yếu là các polyphenols, các axit hữu cơ có trong các loại thảo mộc như Kim ngân hoa, Cúc hoa, Hạ khô thảo. Các chất chống oxy hóa có thể làm giảm nguy cơ mắc và tử vong vì các bệnh lý tim mạch, như xơ vữa động mạch, suy tim; giảm nguy cơ mắc một số loại ung thư nhất định, làm chậm sự phát triển của các khối u; giúp hạn chế sự lão hóa, do vậy có thể khiến da căng mịn, giảm nguy cơ mắc các bệnh liên quan đến lão hóa, ví dụ như thoái hóa điểm vàng, đục thủy tinh thể.
  • Tác dụng chống vi khuẩn, virus và chống nấm: ức chế được các loại vi khuẩn gram âm và gram dương, một số loại nấm và virus, trong đó có các loại vi khuẩn, nấm, virus thường gặp như tụ cầu vàng, E.coli, nấm Candida, virus cúm, virus viêm não Nhật Bản….Kim ngân hoa đặc biệt có tác dụng chống khuẩn mạnh nhờ các hợp chất như Axit Chlorogenic, Axit dicaffeoylquinic, Hyperoside, Shuangkang. Ngoài ra, Cúc hoa, Đản hoa cũng có tác dụng chống khuẩn, chống virus và chống nấm. Những loại thảo mộc này có tác dụng diệt khuẩn theo 2 cơ chế khác nhau: hoặc có tính diệt khuẩn, hoặc hỗ trợ quá trình miễn dịch tự nhiên của cơ thể.
  • Tác dụng chống ung thư thông qua các cơ chế như kích thích quá trình chết tế bào ung thư theo lập trình, ngăn chặn các tế bào ung thư tăng sinh, ngăn chặn quá trình tạo mạch nuôi khối u. Tác dụng này đã được nghiên cứu thử nghiệm trên nhiều loại ung thư như ung thư gan, ung thư biểu mô da người, ung thư tử cung, ung thư đại tràng, ung thư bạch huyết, ung thư phổi…
  • Tác dụng dự phòng bệnh tiểu đường và các biến chứng của tiểu đường: thông qua cơ chế bảo vệ tế bào beta không để tế bào beta chết theo lập trình; ức chế các chất gây giảm sản xuất và tiết insulin liên quan đến tổng hợp glucose; hỗ trợ giảm đường huyết và mỡ máu.
  • Tác dụng bảo vệ gan, thanh nhiệt – giải độc và làm giảm các dấu hiệu sinh hóa trong gan. Hầu hết tất cả các loại thảo mộc có trong trà thanh nhiệt Dr. Thanh đều có tác dụng này, tuy nhiên, tác dụng mạnh nhất phải kể đến Kim ngân hoa, Hạ khô thảo và Tiên thảo.
  • Tác dụng hạ sốt, an thần, giảm căng thẳng, dự phòng các bệnh lý thoái hóa thần kinh như Alzheimer (Kim ngân hoa, Cúc hoa).
  • Tác động lên quá trình chuyển hóa: tăng chuyển hóa chất béo, giảm mỡ, có khả năng hỗ trợ giảm cân, giảm ho và đau họng (Kim ngân hoa, Hạ khô thảo và Cam thảo).

3.5.      Cà phê

Cà phê được sử dụng lần đầu tiên vào thế kỉ thứ 9, khi nó được khám phá ra từ vùng cao nguyên Ethiopia. Từ đó, nó lan ra Ai Cập và Yemen và tới thế kỉ thứ 15 thì đến Armenia, Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ và phía bắc Châu Phi. Từ thế giới Hồi giáo, cà phê đến Ý, sau đó là phần còn lại của Châu Âu, Indonesia và Mĩ. Ngày nay, cà phê là một trong những thức uống thông dụng toàn cầu. Đáp ứng nhu cầu thưởng thức hương vị, nhiều loại cà phê pha chế đặc biệt cho thêm nhiều thành phần khác để tăng hương vị cho một ly cà phê như sữa, kem tươi, trứng, bột ca  cao, sô cô la.

Đặc điểm của cà phê: Hai hoạt chất chính có trong cà phê là hóa chất thực vật (phytochemical) và caffein. Lượng caffein có trong cà phê có thể dao động trong khoảng từ 4mg cho đến 160mg. Ngoài ra, cà phê có chứa chất chống oxi hóa, muối khoáng, protein và vitamin. Caffein có trong cà phê là một chất kích thích giúp giữ não bộ luôn tỉnh táo. Các chất chống oxy hóa trong cà phê có tác dụng phòng chống bệnh Alzheimer, Parkinson, cải thiện trí nhớ, phòng chống đột quỵ, bệnh tim mạch, tiểu đường, bệnh gout, cải thiện chức năng hệ tiêu hóa, phòng chống xơ gan, phòng chống ung thư: ung thư tiền liệt tuyến, ung thư thực quản, thanh quản…Phụ nữ uống khoảng 5 cốc cà phê một ngày (tương đương 400mg cà phê  - theo FDA) giảm nguy cơ mắc bệnh ung thư có liên quan đến hormone estrogen như ung thư buồng trứng, tử cung. Thế nhưng uống quá nhiều cà phê thì lại làm tăng huyết áp, gây ra các vấn đề về tim mạch, làm tăng nguy cơ ung thư vú thêm 20%, uống quá nhiều cà phê có thể gây ra mất ngủ, ảo giác, tăng huyết áp, đi tiểu nhiều, gây ợ chua. Ngoài ra, uống quá nhiều cà phê cũng có thể làm giảm mật độ khoáng trong xương, tăng nguy cơ gãy xương. Các loại cà phê pha sẵn chứa nhiều đường, kem, sữa toàn phần làm gia tăng nguy cơ tiểu đường, béo phì.

Kết luận

  • Các loại đồ uống đều có những khả năng đáp ứng một số nhu cầu của xã hội.
  • Khuyến nghị chuyển dịch từ nhóm đồ uống có cồn sang sử dụng đồ uống không có cồn.
  • Khuyến nghị các đồ uống không ga gồm nước trái cây, trà thảo mộc… với lượng đường thấp.
Ts.Bs Trương Hồng Sơn - Viện Y học ứng dụng Việt Nam
Bình luận
Tin mới
Xem thêm